Blog

Kinh Samidhi.

KINH SAMIDHI (Saṁyutta Nikāya I.1.20) “Này tỳ khưu, chưa hưởng, lại đi tìm đừng tìm kiếm thức ăn khi chưa hưởng hãy hưởng đi, rồi tìm vật thực Đừng để thời gian trôi đi, qua đi!” THIÊN NỮ ĐẾN TỲ KHƯU SAMIDHI: Một thuở nọ, Đức Phật sống tại Tapod’ārāma (công viên suối nước nóng) […]

Advertisements

KINH SAMIDHI

(Saṁyutta Nikāya I.1.20)

“Này tỳ khưu, chưa hưởng, lại đi tìm

đừng tìm kiếm thức ăn khi chưa hưởng

hãy hưởng đi, rồi tìm vật thực

Đừng để thời gian trôi đi, qua đi!”

THIÊN NỮ ĐẾN TỲ KHƯU SAMIDHI:

Một thuở nọ, Đức Phật sống tại Tapod’ārāma (công viên suối nước nóng) gần Sāvatthī (thành Vương Xá). Vào sáng sớm, tỳ khưu Samidhi đến suối nước nóng tắm. Tắm xong, đi lên, vị này vấn y và đứng hong khô thân thể.

Về đêm, một tiên nữ đẹp tuyệt trần tỏa hào quang sáng chói cả Tapod’ārāma đến gần tỳ khưu Samidhi. Đứng trên không trung, tiên nữ nói rằng:

Abhutvā bhikkhasi bhikkhu, na hi bhutvāna bhikkhasi;

Bhutvāna bhikkhu bhikkhassu, mā taṃ kālo upaccagā’’ti.

Này tỳ khưu, chưa hưởng, lại đi tìm

đừng tìm kiếm thức ăn khi chưa hưởng

hãy hưởng đi, rồi tìm vật thực

Đừng để thời gian trôi đi, qua đi!

Tỳ khưu đáp:

Kālaṃ vohaṃ na jānāmi, channo kālo na dissati;

Tasmā abhutvā bhikkhāmi, mā maṃ kālo upaccagā’’ti.

Ta chẳng biết thời gian là gì

Thời gian ẩn trốn, không nhìn thấy được

Cho nên không hưởng, ta đi khất thực

Không để thời gian trôi đi, qua đi.

Tiên nữ đứng xuống và nói rằng:

– Người xuất gia khi tuổi còn rất trẻ, râu tóc vẫn còn xanh và đầy sự trẻ trung. Khi mẹ cha không mong muốn và gạt nước mắt (đành để con mình xuất gia), người xuống tóc, khoác lên mảnh y tỳ khưu và sống đời không nhà, mà chưa hưởng trọn vẹn hạnh phúc thế tục. Hãy vui hưởng hạnh phúc thế tục, này tỳ khưu! Đừng từ bỏ cái có thể nhìn thấy ngay bây giờ và tại đây để chạy theo cái hao tổn thời gian.

Tỳ khưu đáp:

– Này bạn, ta không từ bỏ cái có thể nhìn thấy ngay bây giờ và tại đây để chạy theo cái tốn phí thời gian. Ta từ bỏ cái tốn phí thời gian, và theo đuổi cái có thể nhìn thấy rõ ngay bây giờ và tại đây.

Này bạn, Đức Thế Tôn dạy rằng: (theo đuổi) hạnh phúc thế tục rất phung phí thời gian, hạnh phúc thế tục đầy dẫy khổ đau, buồn phiền và nguy hiểm. Giáo pháp có thể nhìn thấy rõ ngay bây giờ và tại đây, đáng mời mọi người đến chiêm ngưỡng, được chiêm nghiệm trong tâm, và được bậc trí kinh nghiệm, hiểu rõ.

Tiên nữ hỏi rằng:

Nhưng vì sao Đức Thế Tôn dạy rằng: hạnh phúc thế tục rất phung phí thời gian, đầy dẫy khổ đau, buồn phiền và nguy hiểm. Đức Thế Tôn dạy rằng: giáo pháp có thể nhìn thấy rõ ngay bây giờ và tại đây, đáng mời mọi người đến chiêm ngưỡng, được chiêm nghiệm trong tâm, và được bậc trí kinh nghiệm, hiểu rõ?

Tỳ khưu đáp:

Này bạn, tôi xuất gia chẳng được bao lâu, tôi chỉ mới biết chút ít về giáo pháp và giới luật, nên không thể giảng giải chi tiết. Nhưng Đức Phật là bậc A La Hán, bậc hoàn toàn giác ngộ và Ngài đang ở tại đây. Hãy đến hỏi Ngài, và Ngài dạy điều gì, người nên ghi nhớ.

Tiên nữ đáp:

Nhưng tôi khó lòng gặp được Ngài, vì các thiên vương (cùng với tùy tùng) thường vây quanh Ngài. Tỳ khưu có thể đến hỏi giúp tôi được không? Được vậy tôi xin đi theo để nghe ạ.

Tỳ khưu đáp: “Được rồi” và đi đến gặp Đức Phật. Gặp Ngài, tỳ khưu đảnh lễ, ngồi sang một bên và kể lại câu chuyện mình đi tắm buổi sáng và về đêm tiên nữ đến nói chuyện, đối đáp với nhau như những gì đã xảy ra.

“Khi nút thắt đã được cắt bỏ, sẽ không còn rắc rối, tham đắm,

chẳng ai có thể tìm ra (dấu vết) người như thế nơi đâu:

cõi chư thiên, trong cõi người này hoặc cảnh giới cao hơn

hay bất kỳ nơi nào (trong thế giới).”

Đức Thế Tôn trả lời như sau:

Akkheyyasaññino sattā, akkheyyasmiṃ patiṭṭhitā;

Akkheyyaṃ apariññāya, yogamāyanti maccuno.

Akkheyyañca pariññāya, akkhātāraṃ na maññati,

Tañhi tassa na hotīti, yena naṃ vajjā na tassa atthi,

Sace vijānāsi vadehi yakkhā’ti.

Chúng sinh phát sinh khái niệm nơi những gì có thể biểu hiện,

Rồi khẳng định mình ở những gì có thể biểu hiện,

Không hiểu rõ những gì có thể biểu hiện,

Người ấy bị cái chết quấn trói.

Nhưng khi hiểu rõ cái có thể biểu hiện,

Người này không thấy có ai để biểu hiện,

Bởi chẳng có gì về mình

để phải nói.

Nghe vậy, ngươi (yakhī) có hiểu không?

Tiên nữ đáp:

– Dạ thưa, giáo pháp mà Đức Thế Tôn nói quá ngắn gọn, con không thể hiểu rõ ràng chi tiết. Xin Đức Thế Tôn giảng giải để con có thể hiểu được giáo pháp ngắn gọn này.

Đức Thế Tôn trả lời như sau:

‘‘Samo visesī uda vā nihīno,

Yo maññatī so vivadetha tena,

Tīsu vidhāsu avikampamāno,

Samo visesīti na tassa hoti,

Sace vijānāsi vadehi yakkhā’ti.

Ngã mạn: “tôi được như người đó”, “tôi hơn người đó”, “tôi không bằng người đó”,

nghĩ như thế, sẽ rơi vào tranh cãi.

Không bị tác động bởi ba điều khác biệt này,

người này không nghĩ: tôi bằng, tôi hơn, tôi thua.

Nghe vậy, ngươi (yakhī) có hiểu không?

Tiên nữ đáp:

– Dạ giáo pháp mà Đức Thế Tôn nói quá ngắn gọn, con không thể hiểu rõ ràng. Xin Đức Thế Tôn giảng giải để con có thể hiểu được giáo pháp ngắn gọn này.

Đức Thế Tôn trả lời như sau:

Pahāsi saṅkhaṃ na vimānamajjhagā, taṇhaṃ idha nāmarūpe,

Taṃ chinnaganthaṃ anighaṃ nirāsaṃ, pariyesamānā nājjhagamuṃ,

Devā manussā idha vā huraṃ vā, saggesu vā sabbanivesanesu,

Sace vijānāsi vadehi yakkhā’’ti.

Người này từ bỏ so sánh, không còn ngã mạn kiêu mạn,

được vậy là cắt bỏ tham ái nơi thân tâm này.

Khi nút thắt đã được cắt bỏ, sẽ không còn rắc rối, tham đắm,

chẳng ai có thể tìm ra (dấu vết) người như thế nơi đâu:

cõi chư thiên, trong cõi người này hoặc cảnh giới cao hơn

hay bất kỳ nơi nào (trong thế giới).

Nghe vậy, ngươi (yakhī) có hiểu không?

Tiên nữ đáp:

Dạ con hiểu rõ ràng chi tiết giáo pháp mà Đức Thế Tôn nói ngắn gọn như sau:

Pāpaṃ na kayirā vacasā manasā,

Kāyena vā kiñcana sabbaloke,

Kāme pahāya satimā sampajāno,

Dukkhaṃ na sevetha anatthasaṃhita’nti.

Qua thân, khẩu, hay ý,

điều ác chẳng nên làm,

dù là điều ác gì trong thế giới này.

Từ bỏ tham ái, sống chánh niệm và tỉnh giác,

người sẽ chẳng gặp đau khổ hay bất lợi.

GIẢI THÍCH:

1. Đối Đáp Giữa Tiên Nữ Và Tỳ Khưu

Trong bài kinh này, có các câu kệ đối đáp giữa tiên nữ và tỳ khưu Samidhi liên quan đến chữ bhutvā (xuất phát từ chữ bhuñjati) có nghĩa là ăn, cũng có nghĩa là hưởng thụ thú vui trần gian, như lối nói đẩy đưa của tiên nữ. Tiên nữ mời mọc tỳ khưu hãy tận dụng thời gian (kāla) hưởng thụ hạnh phúc thế gian trước, mời mọc tỳ khưu tận hưởng tuổi trẻ, đừng vội vàng đi khất thực.

Hiểu ý của tiên nữ, nhưng trong câu trả lời của mình, tỳ khưu Samidhi dùng chữ kāla theo nghĩa: vào thời điểm chết:

“Ta chẳng biết thời gian là gì

Thời gian ẩn trốn, không nhìn thấy được.”

Vị này không biết khi nào mình sẽ chết vì thời gian (lúc chết) vẫn ẩn trốn (không thấy trước). Cho nên không phung phí thời gian, “không để thời gian trôi đi, qua đi”, vị này đi bát và rồi làm công việc của tỳ khưu: tìm hiểu pháp, ẩn dật hành thiền…

Và rồi vị tiên nữ lại tiếp tục thuyết phục:

“Hãy vui hưởng hạnh phúc thế tục, này tỳ khưu! Đừng từ bỏ cái có thể nhìn thấy ngay bây giờ và tại đây (sandiṭṭhika) để chạy theo cái hao tổn thời gian (kālika).”

Với ý nghĩa: hạnh phúc trần gian quyến rũ có thể được hưởng thụ ngay bây giờ, ở đây, sao chẳng hưởng, lại phải theo đuổi việc tu tập, hành thiền vốn mất nhiều thời gian công sức?

Nghe vậy, vị chư thiên này nói rằng:

– Xin tỳ khưu hãy hỏi. Tôi đã đến đây (để nghe).

Nghe vậy tỳ khưu Samidhi trả lời:

Từ bỏ cái gọi là sandiṭṭhika (hạnh phúc trần gian quyến rũ có thể được hưởng thụ ngay bây giờ), tôi chẳng theo đuổi cái gọi là kālika (thứ “hạnh phúc trần gian” mà tỳ khưu cho là chỉ hao tổn thời gian)

Từ bỏ cái gọi là kālika (những hạnh phúc trần gian chỉ làm hao tổn thời gian), tôi theo đuổi cái gọi là sandiṭṭhika (giáo pháp được chứng nghiệm ngay bây giờ và tại đây).

Na ahaṁ sandiṭṭhikaṁ hitvā, kālikaṁ anudhāvāmi.

Kālikaṁ hitvā, sandiṭṭhikaṁ anudhāvāmi

Tỳ khưu dùng lời lẽ của tiên nữ để nói điều ngược lại: hạnh phúc trần gian chỉ làm phí thời giờ người theo đuổi nó, nhưng giáo pháp có thể được kinh nghiệm, hiểu rõ ngay bây giờ và tại đây. Và giải thích thêm:

“Này bạn, Đức Thế Tôn dạy rằng: (theo đuổi) hạnh phúc thế tục rất phung phí thời gian, hạnh phúc thế tục đầy dẫy khổ đau, buồn phiền và nguy hiểm. Giáo pháp có thể nhìn thấy rõ ngay bây giờ và tại đây, đáng mời mọi người đến chiêm ngưỡng, được chiêm nghiệm nơi tâm, và được bậc trí kinh nghiệm, hiểu rõ.”

Chạy đuổi theo ảo ảnh của hạnh phúc thế tục quả thật phung phí thời gian. Khi vui, ta cũng đồng thời lo lắng, đau đớn, buồn phiền vì chẳng có một niềm vui thế gian nào là trọn vẹn. Theo nhà chú giải Buddhaghosa, làm những điều tốt, xấu để rồi tái sinh lên, xuống trong các cảnh giới là rất phung phí thời gian. Chỉ khi nhận ra bản chất đau khổ nơi 5 uẩn và quay lưng bỏ đi, thôi kiếm tìm hạnh phúc trần gian, thì chúng sinh mới thực sự hạnh phúc và đau khổ không còn hành hạ thêm nữa.

  1. Câu Trả Lời Của Đức Phật:

    Akkheyyasaññino sattā – chúng sinh phát sinh khái niệm nơi những gì có thể biểu hiện.

    Theo chú giải, akkheyya là những gì có thể biểu hiện, có nghĩa là 5 uẩn. Do si mê nên 5 uẩn này bị hiểu lầm, nên người ta thấy chúng “có biểu hiện” như là một chúng sinh: chư thiên, loài người, ông A, bà B… Hiểu lầm và rồi tin là vậy, khẳng định 5 uẩn là “tôi”, là “anh” (akkheyyasmiṃ patiṭṭhitā). Vì hiểu lầm có người và người, nên có tranh đua hơn thua giữa người và người, nên tham, sân, ngã mạn, ích kỉ, ganh tị phát sinh. Hơn nữa, do không thấy rõ bản chất đổi thay, đau khổ và không làm chủ được nên tham ái, quyến luyến, níu giữ phát sinh: tham ái giữa người và người, tham ái với của cải tài sản, tham dính, chấp chặt vào ý kiến, niềm tin riêng của mình. Và rồi chúng sinh cứ lang thang vô định trong luân hồi sinh tử, bị cái chết quấn trói (yogamāyanti maccuno) để nước mắt khóc than cứ tuôn chảy trong luân hồi, nhiều hơn nước của các đại dương hợp lại.

“Nhưng khi hiểu rõ cái có thể biểu hiện (5 uẩn)

Người này (bậc A La Hán) không thấy có ai để biểu hiện

Bởi chẳng có gì về mình

để phải nói.”

Theo chú giải Thanh Tịnh Đạo, “hiểu rõ cái có thể biểu hiện” là hiểu 5 uẩn kỹ càng, rõ ràng:

– Những đặc tính riêng của vật chất (đất, nước, lửa, gió), của các cảm thọ, của các loại tâm khác nhau (ñāta pariññā)

– những đặc tính chung của vật chất, cảm thọ và tâm (vô thường, khổ, vô ngã), nhờ quán sát kỹ càng 5 uẩn (tiraṇa pariññā)

– sự buông bỏ, không còn tham đắm, bám níu vào 5 uẩn, không còn “ngũ uẩn thủ”(pahāna pariññā)

Bậc A La Hán không còn thấy có linh hồn hay chúng sinh nào hiện hữu trong đời, ngoại trừ 5 uẩn, nên Ngài không còn bám níu vào 5 uẩn, không thấy có sự tồn tại của “tôi”, “của tôi” hay “chính tôi” gì nữa. Dù vẫn dùng những danh từ như “ông”, “anh”… trong giao tiếp, nhưng Ngài không bị dính kẹt vào các khái niệm thế gian sai lầm này nữa.

“Ngã mạn: tôi được như người đó, tôi hơn người đó, tôi không bằng người đó,

nghĩ như thế, sẽ rơi vào tranh cãi.

Không bị tác động bởi ba điều khác biệt này,

người này (bậc A La Hán) sẽ không nghĩ: tôi bằng, tôi hơn, tôi thua.”

Theo nhà chú giải Buddhaghosa, còn ngã mạn, hơn thua là còn hao phí thời gian nổi trôi trong luân hồi. Bậc A La Hán đã thấy rõ, kinh nghiệm giáo pháp (vô ngã) ngay bây giờ và tại đây, không còn bị tác động bởi ba loại ngã mạn ấy nữa.

“Người này từ bỏ so sánh, không còn ngã mạn kiêu mạn,

được vậy là cắt bỏ tham ái nơi thân tâm này.

Khi nút thắt đã được cắt bỏ, sẽ không còn rắc rối, tham đắm

chẳng ai có thể tìm ra (dấu vết) người như thế nơi đâu:

trong cõi chư thiên, cõi người này hoặc cảnh giới cao hơn

hay bất kỳ nơi nào (trong thế giới).”

Ngài đã diệt tận mọi ô nhiễm tham, sân, si, ngã mạn, hoài nghi, ganh tị… trong tâm, Ngài không còn tái sinh nơi đâu. Như lối chim bay không để lại dấu vết, Ngài không còn tái sinh nơi đâu trong 31 cõi thế gian, nên chẳng ai tìm ra dấu vết bậc Thánh trí cao thượng ấy nữa.

Sau khi Đức Phật nhiều lần giải thích chi tiết, tiên nữ cuối cùng hiểu ra:

“Qua thân, khẩu hay ý,

điều ác chẳng nên làm,

dù là điều ác gì trong thế giới này.

Từ bỏ tham ái, sống chánh niệm và tỉnh giác,

người sẽ chẳng gặp khổ đau hay bất lợi.”

Nơi đây, cách thức để được an vui, không gặp khổ đau hay bất lợi là: tránh làm điều ác qua thân khẩu ý, dù là điều nhỏ nhặt, làm các điều lành (từ bỏ tham ái…) và thanh lọc tâm (sống chánh niệm, tỉnh giác). Qua đó, con đường trung đạo được chỉ ra: không sống lợi dưỡng (từ bỏ tham ái), không sống hành xác (không gặp khổ đau hay bất lợi), mà đây cũng là Bát Chánh Đạo với nhóm giới: tránh làm điều ác qua thân khẩu ý (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng), nhóm định (chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định) và nhóm tuệ (chánh kiến, chánh tư duy, nơi đây tỉnh giác sampajjano thuộc về trí tuệ, chánh kiến).

Theo chú giải, bài pháp này được coi là bài pháp tuyệt vời, là bài pháp lớn (mahatī dhamma desanā) về Bát Chánh Đạo. Nghe xong bài pháp này, vị tiên nữ trở thành Thánh Nhập Lưu Tu Đà Hườn.

Kinh Samidhi.

KINH SAMIDHI
(Saṁyutta Nikāya I.1.20)

“Này tỳ khưu, chưa hưởng, lại đi tìm
đừng tìm kiếm thức ăn khi chưa hưởng
hãy hưởng đi, rồi tìm vật thực
Đừng để thời gian trôi đi, qua đi!”

THIÊN NỮ ĐẾN TỲ KHƯU SAMIDHI:

Một thuở nọ, Đức Phật sống tại Tapod’ārāma (công viên suối nước nóng) gần Sāvatthī (thành Vương Xá). Vào sáng sớm, tỳ khưu Samidhi đến suối nước nóng tắm. Tắm xong, đi lên, vị này vấn y và đứng hong khô thân thể.

Về đêm, một tiên nữ đẹp tuyệt trần tỏa hào quang sáng chói cả Tapod’ārāma đến gần tỳ khưu Samidhi. Đứng trên không trung, tiên nữ nói rằng:
Abhutvā bhikkhasi bhikkhu, na hi bhutvāna bhikkhasi;
Bhutvāna bhikkhu bhikkhassu, mā taṃ kālo upaccagā’’ti.
Này tỳ khưu, chưa hưởng, lại đi tìm
đừng tìm kiếm thức ăn khi chưa hưởng
hãy hưởng đi, rồi tìm vật thực
Đừng để thời gian trôi đi, qua đi!

Tỳ khưu đáp:
Kālaṃ vohaṃ na jānāmi, channo kālo na dissati;
Tasmā abhutvā bhikkhāmi, mā maṃ kālo upaccagā’’ti.
Ta chẳng biết thời gian là gì
Thời gian ẩn trốn, không nhìn thấy được
Cho nên không hưởng, ta đi khất thực
Không để thời gian trôi đi, qua đi.

Tiên nữ đứng xuống và nói rằng:
– Người xuất gia khi tuổi còn rất trẻ, râu tóc vẫn còn xanh và đầy sự trẻ trung. Khi mẹ cha không mong muốn và gạt nước mắt (đành để con mình xuất gia), người xuống tóc, khoác lên mảnh y tỳ khưu và sống đời không nhà, mà chưa hưởng trọn vẹn hạnh phúc thế tục. Hãy vui hưởng hạnh phúc thế tục, này tỳ khưu! Đừng từ bỏ cái có thể nhìn thấy ngay bây giờ và tại đây để chạy theo cái hao tổn thời gian.

Tỳ khưu đáp:
– Này bạn, ta không từ bỏ cái có thể nhìn thấy ngay bây giờ và tại đây để chạy theo cái tốn phí thời gian. Ta từ bỏ cái tốn phí thời gian, và theo đuổi cái có thể nhìn thấy rõ ngay bây giờ và tại đây.
Này bạn, Đức Thế Tôn dạy rằng: (theo đuổi) hạnh phúc thế tục rất phung phí thời gian, hạnh phúc thế tục đầy dẫy khổ đau, buồn phiền và nguy hiểm. Giáo pháp có thể nhìn thấy rõ ngay bây giờ và tại đây, đáng mời mọi người đến chiêm ngưỡng, được chiêm nghiệm trong tâm, và được bậc trí kinh nghiệm, hiểu rõ.

Tiên nữ hỏi rằng:
Nhưng vì sao Đức Thế Tôn dạy rằng: hạnh phúc thế tục rất phung phí thời gian, đầy dẫy khổ đau, buồn phiền và nguy hiểm. Đức Thế Tôn dạy rằng: giáo pháp có thể nhìn thấy rõ ngay bây giờ và tại đây, đáng mời mọi người đến chiêm ngưỡng, được chiêm nghiệm trong tâm, và được bậc trí kinh nghiệm, hiểu rõ?

Tỳ khưu đáp:
Này bạn, tôi xuất gia chẳng được bao lâu, tôi chỉ mới biết chút ít về giáo pháp và giới luật, nên không thể giảng giải chi tiết. Nhưng Đức Phật là bậc A La Hán, bậc hoàn toàn giác ngộ và Ngài đang ở tại đây. Hãy đến hỏi Ngài, và Ngài dạy điều gì, người nên ghi nhớ.
Tiên nữ đáp:
Nhưng tôi khó lòng gặp được Ngài, vì các thiên vương (cùng với tùy tùng) thường vây quanh Ngài. Tỳ khưu có thể đến hỏi giúp tôi được không? Được vậy tôi xin đi theo để nghe ạ.

Tỳ khưu đáp: “Được rồi” và đi đến gặp Đức Phật. Gặp Ngài, tỳ khưu đảnh lễ, ngồi sang một bên và kể lại câu chuyện mình đi tắm buổi sáng và về đêm tiên nữ đến nói chuyện, đối đáp với nhau như những gì đã xảy ra.
“Khi nút thắt đã được cắt bỏ, sẽ không còn rắc rối, tham đắm,
chẳng ai có thể tìm ra (dấu vết) người như thế nơi đâu:
cõi chư thiên, trong cõi người này hoặc cảnh giới cao hơn
hay bất kỳ nơi nào (trong thế giới).”

Đức Thế Tôn trả lời như sau:
Akkheyyasaññino sattā, akkheyyasmiṃ patiṭṭhitā;
Akkheyyaṃ apariññāya, yogamāyanti maccuno.
Akkheyyañca pariññāya, akkhātāraṃ na maññati,
Tañhi tassa na hotīti, yena naṃ vajjā na tassa atthi,
Sace vijānāsi vadehi yakkhā’ti.
Chúng sinh phát sinh khái niệm nơi những gì có thể biểu hiện,
Rồi khẳng định mình ở những gì có thể biểu hiện,
Không hiểu rõ những gì có thể biểu hiện,
Người ấy bị cái chết quấn trói.
Nhưng khi hiểu rõ cái có thể biểu hiện,
Người này không thấy có ai để biểu hiện,
Bởi chẳng có gì về mình
để phải nói.
Nghe vậy, ngươi (yakhī) có hiểu không?

Tiên nữ đáp:
– Dạ thưa, giáo pháp mà Đức Thế Tôn nói quá ngắn gọn, con không thể hiểu rõ ràng chi tiết. Xin Đức Thế Tôn giảng giải để con có thể hiểu được giáo pháp ngắn gọn này.

Đức Thế Tôn trả lời như sau:
‘‘Samo visesī uda vā nihīno,
Yo maññatī so vivadetha tena,
Tīsu vidhāsu avikampamāno,
Samo visesīti na tassa hoti,
Sace vijānāsi vadehi yakkhā’ti.
Ngã mạn: “tôi được như người đó”, “tôi hơn người đó”, “tôi không bằng người đó”,
nghĩ như thế, sẽ rơi vào tranh cãi.
Không bị tác động bởi ba điều khác biệt này,
người này không nghĩ: tôi bằng, tôi hơn, tôi thua.
Nghe vậy, ngươi (yakhī) có hiểu không?

Tiên nữ đáp:
– Dạ giáo pháp mà Đức Thế Tôn nói quá ngắn gọn, con không thể hiểu rõ ràng. Xin Đức Thế Tôn giảng giải để con có thể hiểu được giáo pháp ngắn gọn này.

Đức Thế Tôn trả lời như sau:
Pahāsi saṅkhaṃ na vimānamajjhagā, taṇhaṃ idha nāmarūpe,
Taṃ chinnaganthaṃ anighaṃ nirāsaṃ, pariyesamānā nājjhagamuṃ,
Devā manussā idha vā huraṃ vā, saggesu vā sabbanivesanesu,
Sace vijānāsi vadehi yakkhā’’ti.
Người này từ bỏ so sánh, không còn ngã mạn kiêu mạn,
được vậy là cắt bỏ tham ái nơi thân tâm này.
Khi nút thắt đã được cắt bỏ, sẽ không còn rắc rối, tham đắm,
chẳng ai có thể tìm ra (dấu vết) người như thế nơi đâu:
cõi chư thiên, trong cõi người này hoặc cảnh giới cao hơn
hay bất kỳ nơi nào (trong thế giới).
Nghe vậy, ngươi (yakhī) có hiểu không?

Tiên nữ đáp:
Dạ con hiểu rõ ràng chi tiết giáo pháp mà Đức Thế Tôn nói ngắn gọn như sau:
Pāpaṃ na kayirā vacasā manasā,
Kāyena vā kiñcana sabbaloke,
Kāme pahāya satimā sampajāno,
Dukkhaṃ na sevetha anatthasaṃhita’nti.
Qua thân, khẩu, hay ý,
điều ác chẳng nên làm,
dù là điều ác gì trong thế giới này.
Từ bỏ tham ái, sống chánh niệm và tỉnh giác,
người sẽ chẳng gặp đau khổ hay bất lợi.

GIẢI THÍCH:
1. Đối Đáp Giữa Tiên Nữ Và Tỳ Khưu
Trong bài kinh này, có các câu kệ đối đáp giữa tiên nữ và tỳ khưu Samidhi liên quan đến chữ bhutvā (xuất phát từ chữ bhuñjati) có nghĩa là ăn, cũng có nghĩa là hưởng thụ thú vui trần gian, như lối nói đẩy đưa của tiên nữ. Tiên nữ mời mọc tỳ khưu hãy tận dụng thời gian (kāla) hưởng thụ hạnh phúc thế gian trước, mời mọc tỳ khưu tận hưởng tuổi trẻ, đừng vội vàng đi khất thực.

Hiểu ý của tiên nữ, nhưng trong câu trả lời của mình, tỳ khưu Samidhi dùng chữ kāla theo nghĩa: vào thời điểm chết:
“Ta chẳng biết thời gian là gì
Thời gian ẩn trốn, không nhìn thấy được.”
Vị này không biết khi nào mình sẽ chết vì thời gian (lúc chết) vẫn ẩn trốn (không thấy trước). Cho nên không phung phí thời gian, “không để thời gian trôi đi, qua đi”, vị này đi bát và rồi làm công việc của tỳ khưu: tìm hiểu pháp, ẩn dật hành thiền…

Và rồi vị tiên nữ lại tiếp tục thuyết phục:
“Hãy vui hưởng hạnh phúc thế tục, này tỳ khưu! Đừng từ bỏ cái có thể nhìn thấy ngay bây giờ và tại đây (sandiṭṭhika) để chạy theo cái hao tổn thời gian (kālika).”
Với ý nghĩa: hạnh phúc trần gian quyến rũ có thể được hưởng thụ ngay bây giờ, ở đây, sao chẳng hưởng, lại phải theo đuổi việc tu tập, hành thiền vốn mất nhiều thời gian công sức?

Nghe vậy, vị chư thiên này nói rằng:
– Xin tỳ khưu hãy hỏi. Tôi đã đến đây (để nghe).

Nghe vậy tỳ khưu Samidhi trả lời:
Từ bỏ cái gọi là sandiṭṭhika (hạnh phúc trần gian quyến rũ có thể được hưởng thụ ngay bây giờ), tôi chẳng theo đuổi cái gọi là kālika (thứ “hạnh phúc trần gian” mà tỳ khưu cho là chỉ hao tổn thời gian)
Từ bỏ cái gọi là kālika (những hạnh phúc trần gian chỉ làm hao tổn thời gian), tôi theo đuổi cái gọi là sandiṭṭhika (giáo pháp được chứng nghiệm ngay bây giờ và tại đây).
Na ahaṁ sandiṭṭhikaṁ hitvā, kālikaṁ anudhāvāmi.
Kālikaṁ hitvā, sandiṭṭhikaṁ anudhāvāmi

Tỳ khưu dùng lời lẽ của tiên nữ để nói điều ngược lại: hạnh phúc trần gian chỉ làm phí thời giờ người theo đuổi nó, nhưng giáo pháp có thể được kinh nghiệm, hiểu rõ ngay bây giờ và tại đây. Và giải thích thêm:
“Này bạn, Đức Thế Tôn dạy rằng: (theo đuổi) hạnh phúc thế tục rất phung phí thời gian, hạnh phúc thế tục đầy dẫy khổ đau, buồn phiền và nguy hiểm. Giáo pháp có thể nhìn thấy rõ ngay bây giờ và tại đây, đáng mời mọi người đến chiêm ngưỡng, được chiêm nghiệm nơi tâm, và được bậc trí kinh nghiệm, hiểu rõ.”

Chạy đuổi theo ảo ảnh của hạnh phúc thế tục quả thật phung phí thời gian. Khi vui, ta cũng đồng thời lo lắng, đau đớn, buồn phiền vì chẳng có một niềm vui thế gian nào là trọn vẹn. Theo nhà chú giải Buddhaghosa, làm những điều tốt, xấu để rồi tái sinh lên, xuống trong các cảnh giới là rất phung phí thời gian. Chỉ khi nhận ra bản chất đau khổ nơi 5 uẩn và quay lưng bỏ đi, thôi kiếm tìm hạnh phúc trần gian, thì chúng sinh mới thực sự hạnh phúc và đau khổ không còn hành hạ thêm nữa.

  1. Câu Trả Lời Của Đức Phật:
    Akkheyyasaññino sattā – chúng sinh phát sinh khái niệm nơi những gì có thể biểu hiện.
    Theo chú giải, akkheyya là những gì có thể biểu hiện, có nghĩa là 5 uẩn. Do si mê nên 5 uẩn này bị hiểu lầm, nên người ta thấy chúng “có biểu hiện” như là một chúng sinh: chư thiên, loài người, ông A, bà B… Hiểu lầm và rồi tin là vậy, khẳng định 5 uẩn là “tôi”, là “anh” (akkheyyasmiṃ patiṭṭhitā). Vì hiểu lầm có người và người, nên có tranh đua hơn thua giữa người và người, nên tham, sân, ngã mạn, ích kỉ, ganh tị phát sinh. Hơn nữa, do không thấy rõ bản chất đổi thay, đau khổ và không làm chủ được nên tham ái, quyến luyến, níu giữ phát sinh: tham ái giữa người và người, tham ái với của cải tài sản, tham dính, chấp chặt vào ý kiến, niềm tin riêng của mình. Và rồi chúng sinh cứ lang thang vô định trong luân hồi sinh tử, bị cái chết quấn trói (yogamāyanti maccuno) để nước mắt khóc than cứ tuôn chảy trong luân hồi, nhiều hơn nước của các đại dương hợp lại.

“Nhưng khi hiểu rõ cái có thể biểu hiện (5 uẩn)
Người này (bậc A La Hán) không thấy có ai để biểu hiện
Bởi chẳng có gì về mình
để phải nói.”

Theo chú giải Thanh Tịnh Đạo, “hiểu rõ cái có thể biểu hiện” là hiểu 5 uẩn kỹ càng, rõ ràng:
– Những đặc tính riêng của vật chất (đất, nước, lửa, gió), của các cảm thọ, của các loại tâm khác nhau (ñāta pariññā)
– những đặc tính chung của vật chất, cảm thọ và tâm (vô thường, khổ, vô ngã), nhờ quán sát kỹ càng 5 uẩn (tiraṇa pariññā)
– sự buông bỏ, không còn tham đắm, bám níu vào 5 uẩn, không còn “ngũ uẩn thủ”(pahāna pariññā)
Bậc A La Hán không còn thấy có linh hồn hay chúng sinh nào hiện hữu trong đời, ngoại trừ 5 uẩn, nên Ngài không còn bám níu vào 5 uẩn, không thấy có sự tồn tại của “tôi”, “của tôi” hay “chính tôi” gì nữa. Dù vẫn dùng những danh từ như “ông”, “anh”… trong giao tiếp, nhưng Ngài không bị dính kẹt vào các khái niệm thế gian sai lầm này nữa.

“Ngã mạn: tôi được như người đó, tôi hơn người đó, tôi không bằng người đó,
nghĩ như thế, sẽ rơi vào tranh cãi.
Không bị tác động bởi ba điều khác biệt này,
người này (bậc A La Hán) sẽ không nghĩ: tôi bằng, tôi hơn, tôi thua.”
Theo nhà chú giải Buddhaghosa, còn ngã mạn, hơn thua là còn hao phí thời gian nổi trôi trong luân hồi. Bậc A La Hán đã thấy rõ, kinh nghiệm giáo pháp (vô ngã) ngay bây giờ và tại đây, không còn bị tác động bởi ba loại ngã mạn ấy nữa.
“Người này từ bỏ so sánh, không còn ngã mạn kiêu mạn,
được vậy là cắt bỏ tham ái nơi thân tâm này.
Khi nút thắt đã được cắt bỏ, sẽ không còn rắc rối, tham đắm
chẳng ai có thể tìm ra (dấu vết) người như thế nơi đâu:
trong cõi chư thiên, cõi người này hoặc cảnh giới cao hơn
hay bất kỳ nơi nào (trong thế giới).”
Ngài đã diệt tận mọi ô nhiễm tham, sân, si, ngã mạn, hoài nghi, ganh tị… trong tâm, Ngài không còn tái sinh nơi đâu. Như lối chim bay không để lại dấu vết, Ngài không còn tái sinh nơi đâu trong 31 cõi thế gian, nên chẳng ai tìm ra dấu vết bậc Thánh trí cao thượng ấy nữa.

Sau khi Đức Phật nhiều lần giải thích chi tiết, tiên nữ cuối cùng hiểu ra:
“Qua thân, khẩu hay ý,
điều ác chẳng nên làm,
dù là điều ác gì trong thế giới này.
Từ bỏ tham ái, sống chánh niệm và tỉnh giác,
người sẽ chẳng gặp khổ đau hay bất lợi.”

Nơi đây, cách thức để được an vui, không gặp khổ đau hay bất lợi là: tránh làm điều ác qua thân khẩu ý, dù là điều nhỏ nhặt, làm các điều lành (từ bỏ tham ái…) và thanh lọc tâm (sống chánh niệm, tỉnh giác). Qua đó, con đường trung đạo được chỉ ra: không sống lợi dưỡng (từ bỏ tham ái), không sống hành xác (không gặp khổ đau hay bất lợi), mà đây cũng là Bát Chánh Đạo với nhóm giới: tránh làm điều ác qua thân khẩu ý (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng), nhóm định (chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định) và nhóm tuệ (chánh kiến, chánh tư duy, nơi đây tỉnh giác sampajjano thuộc về trí tuệ, chánh kiến).

Theo chú giải, bài pháp này được coi là bài pháp tuyệt vời, là bài pháp lớn (mahatī dhamma desanā) về Bát Chánh Đạo. Nghe xong bài pháp này, vị tiên nữ trở thành Thánh Nhập Lưu Tu Đà Hườn.

Bài Pháp của Ngài AJHAN CHAH: Người Nghiện Rượu

Chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta là những pháp hữu vi biến đổi, hoặc nghĩ rằng chúng ta đang hạnh phúc hay không được hạnh phúc, hoặc đồng hoá hạnh phúc và đau khổ với chính mình… Nghĩ như vậy không phải là hiểu biết đầy đủ, rõ ràng bản chất thật sự của các pháp. Đó là những ý nghĩ sai lầm hay tà kiến.

 

Người dịch: Diệu Pháp Sudhamma.

Người Nghiện Rượu

Dính mắc vào dục lạc ngũ trần (cảnh sắc, âm thanh, mùi hương, vị ngon, sự xúc chạm qua thân đem đến cảm giác thích thú, hài lòng) chẳng khác nào người nghiện rượu tự đốt cháy gan ruột mình mà không hề hay biết. Người uống rượu chẳng bao giờ biết đủ, họ uống liên tục mà không nghĩ đến sự tai hại của rượu. Và rồi họ sẽ bị đau khổ vì bệnh tật hoành hành.

Vịt

Việc hành thiền chẳng khác nào việc nuôi vịt. Bổn phận của chúng ta là cho vịt ăn uống. Lớn nhanh hay chậm là chuyện của vịt, không phải chuyện của chúng ta. Hãy để cho vịt tự nhiên làm công việc của vịt. Bổn phận của bạn là hành thiền. Dù tiến nhanh hay chậm, bạn hãy thản nhiên chấp nhận. Khi tiến triển nhanh thì biết là tiến triển nhanh, khi tiến triển chậm thì biết là tiến triển chậm, thế thôi. Thấy tiến nhanh mà vui là trật rồi, thấy tiến chậm mà buồn là trật rồi. Nó sao thì biết nó như vậy, đừng gò ép. Thực hành như vậy là có căn bản tốt đẹp.

Phân Bón

Phiền não của chúng ta là phân bón cho việc hành thiền. Chẳng khác nào dùng các loại phân bò, gà… để bón cho các loại cây ăn trái, khiến cây có nhiều quả ngon ngọt. Trong đau khổ có hạnh phúc, trong hỗn loạn có an tịnh. Đau khổ sinh ra hạnh phúc, hỗn loạn sinh ra an tịnh. Hãy lấy đau khổ và hỗn loạn làm phân bón cho hạnh phúc và an tịnh.

Xa Lộ

Chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta là những pháp hữu vi biến đổi, hoặc nghĩ rằng chúng ta đang hạnh phúc hay không được hạnh phúc, hoặc đồng hoá hạnh phúc và đau khổ với chính mình… Nghĩ như vậy không phải là hiểu biết đầy đủ, rõ ràng bản chất thật sự của các pháp. Đó là những ý nghĩ sai lầm hay tà kiến. Chúng ta không thể thúc ép sự vật diễn ra theo chiều hướng mà ta ưa thích. Sự vật diễn biến theo đường lối tự nhiên của chúng. Giả sử bạn ra ngồi ngay giữa xa lộ và các loại xe lớn, nhỏ đang bon bon chạy về hướng bạn. Bạn không thể bảo những chiếc xe dừng lại. Dù bạn nổi giận, xe vẫn tiếp tục chạy về phía bạn đang ngồi. Vậy thì bạn phải làm gì bây giờ? Bạn chỉ còn cách rời khỏi xa lộ. Xa lộ là nơi xe chạy. Vì thế, bạn sẽ khổ nếu bạn không muốn xe chạy trên xa lộ.

Cũng vậy, chúng ta cho rằng các pháp quấy rối ta. Đang ngồi hành thiền mà nghe tiếng động, chúng ta nghĩ rằng: Ồ, tiếng động này làm phiền, quấy rối ta! Nếu nghĩ rằng tiếng động quấy rầy, ta sẽ khổ sở. Thật ra ai đã quấy rầy ai đây? Nếu chịu khó quán sát kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy rằng chính chúng ta đã quấy rầy tiếng động. Tiếng động chỉ đơn giản là tiếng động. Nếu chúng ta hiểu biết tiếng động theo lối này, thì chẳng có chuyện gì xảy ra thêm. Hãy để yên cho tiếng động đến rồi đi. Chúng ta thấy rõ bản chất sinh diệt của âm thanh và thấy âm thanh chẳng có liên hệ gì đến ta cả, đó là trí tuệ thật sự hiểu rõ chân lý.

Thấy cả hai mặt (của vấn đề), bạn sẽ có bình an thật sự. Nếu chỉ thấy một mặt (của vấn đề), bạn sẽ đau khổ. Khi thấy rõ cả hai mặt là bạn đã hành theo trung đạo, sự thực hành đúng đắn, là điều mà ta gọi là chánh kiến hay hiểu biết đúng đắn. Tương tự như vậy, bản chất của tất cả pháp là thay đổi vô thường và hoại diệt, nhưng chúng ta muốn nắm giữ, muốn mang chúng theo và tham đắm, chấp giữ chúng. Chúng ta muốn các pháp trần trở thành sự thực (trong khi chúng là ảo, thay đổi biến hóa liên tục), muốn tìm sự thật trong những cái không thật. Có ý muốn như thế là dính mắc, chấp giữ các pháp, đồng hóa chúng với mình, nên người này sẽ đau khổ. Đức Phật dạy chúng ta hãy chú tâm xem xét điều này.

Đống Rác

Nếu tâm bạn an tịnh, tĩnh lặng thì nó sẽ trở thành một dụng cụ quan trọng để dùng. Nhưng nếu bạn ngồi thiền chỉ với mục đích có tâm định nhằm có được cảm giác hạnh phúc, thoải mái thì bạn đã phí thời giờ. Hành thiền là làm cho tâm tĩnh lặng ổn định, rồi dùng tâm yên lặng ổn định này để xem xét thân và tâm nhằm thấy rõ ràng, chính xác bản chất của chúng. Ngược lại, nếu chỉ tập cho tâm yên tịnh để phiền não khỏi phát sinh thì chẳng khác nào dùng một tảng đá tạm thời đậy hố rác. Nếu dời tảng đá đi, hố rác hôi thối vẫn còn đấy. Sự định tâm không phải để tạm thời hưởng thụ an lạc, mà để xem xét, thấy đúng bản chất của thân và tâm, đó là đạo giải thoát chân chính.

Con Chó Lác

Một lần nọ, Đức Phật và các đệ tử thấy một con chó, đó là một loại chó sống trong rừng. Con chó chạy ra khỏi rừng, nơi nó ở. Đứng một lát, nó lại chạy vào bụi rậm. Sau đó chạy ra, rồi lại chạy vào một bộng cây. Chạy ra khỏi bộng cây, đứng một lát, chó lại chạy, rồi lại nằm, nằm một lát, nó lại nhảy đi. Thì ra con chó này bị lác. Vì lác làm nó ngứa ngáy khó chịu, nó chạy cho đỡ ngứa. Vẫn không hết ngứa nên nó đứng lại. Vẫn cảm thấy khó chịu, nó nằm xuống, rồi lại nhảy vào bụi rậm, vào bộng cây. Chẳng bao giờ nó chịu ngừng nghỉ. Thấy thế, Đức Phật dạy các đệ tử rằng:

“Này các tỳ khưu, các ông có thấy con chó lác lúc chiều không? Nó đau khổ lúc đứng, nó đau khổ lúc chạy, nó đau khổ lúc ngồi, nó đau khổ lúc nằm. Nó than trách: đứng làm nó khổ, ngồi làm nó khổ… nó than trách khi chạy, nó than trách khi nằm, nó than trách bộng cây, nó than trách bụi rậm…”

Thật ra không phải những điều trên làm nó bất an. Cái làm cho nó bất an chính là bệnh lác. Chúng ta chẳng khác nào một con chó lác. Sự bất mãn, sự không hài lòng của chúng ta phát sinh từ tà kiến hay sự hiểu biết sai lầm của chính chúng ta. Vì không thu thúc các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) nên ta than trách sự đau khổ bên ngoài. Dù sống ở Thái Lan, Mỹ hay Anh, chúng ta đều không hài lòng. Vì sao? Vì chúng ta có sự hiểu biết sai lầm. Chỉ có vậy thôi. Cho nên đi đến đâu ta cũng không hài lòng. Khi con chó lành bệnh lác thì đi đâu nó cũng thoải mái, cũng hài lòng. Tương tự như thế, khi không còn tà kiến, khi không còn hiểu biết sai lầm, thì đi đến đâu, ta cũng cảm thấy thoải mái, hài lòng.

Gút Thắt

Chúng ta xem hạnh phúc và không hạnh phúc là bất ổn, không vững bền và vô thường. Chúng ta cũng biết rằng các cảm xúc không tồn tại lâu dài và không nên bám víu vào chúng. Nhìn sự vật theo cách này vì chúng ta có trí tuệ hiểu biết sự vật theo bản chất tự nhiên của chúng.

 

Hiểu biết như vậy chẳng khác nào gỡ ra sợi dây bị thắt gút. Nếu kiên nhẫn và khéo léo tháo gỡ dây theo chiều thích hợp, gút thắt sẽ được nới lỏng và sợi dây sẽ thẳng trở lại. Chẳng khác nào hiểu biết rằng sự vật không luôn tồn tại trong một trạng thái. Trước đây chúng ta tưởng rằng sự vật phải diễn biến theo một chiều hướng nào đó mà không biến đổi theo cách thức khác được. Bởi thế, chúng ta làm cho cái gút thắt bị siết chặt hơn. Siết chặt như thế là đau khổ. Sống theo lối này sẽ bị nhiều áp lực và căng thẳng. Thế nên, chúng ta cần nới lỏng nút thắt một chút rồi buông thõng tự nhiên. Vì sao? Vì nút thắt đã bị thắt chặt, nên chúng ta chỉ có thể nới lỏng dễ dàng nếu không dính mắc, không siết chặt vào nó. Đó không phải là điều kiện cố hữu (nút thắt không nhất thiết phải bị siết chặt mãi). Chúng ta lấy những lời dạy về vô thường làm căn bản cho chúng ta. Chúng ta thấy rằng hạnh phúc và không hạnh phúc đều không luôn là thế, không mãi mãi như thế. Không nên ỷ lại hay nương tựa vào chúng. (Chúng ta cần hiểu rằng) không có cái gì trên thế gian này không bị luật vô thường chi phối. Hiểu biết như thế, chúng ta sẽ bớt tin tưởng, bám níu vào những loại tình cảm và cảm xúc diễn ra trong tâm chúng ta. Khi đó, hiểu biết sai lầm hay tà kiến trong chúng ta cũng giảm thiểu. Đó là ý nghĩa của sự cởi bỏ các gút thắt, tiếp tục làm cho gút thắt càng ngày càng lỏng hơn, tiến đến bứng tận gốc sự chấp giữ, dính mắc.

Con Dòi

An vui, hạnh phúc không tùy thuộc vào chuyện chúng ta giao tiếp với nhiều người hay ít người trong xã hội. An vui, hạnh phúc chỉ đến từ chánh kiến. Khi bạn có chánh kiến, có sự hiểu biết đúng đắn thì an vui, hạnh phúc sẽ đến. Nếu có sự hiểu biết đúng đắn thì bất kỳ sống ở nơi nào, bạn cũng cảm thấy hài lòng. Nhưng phần lớn chúng ta không có chánh kiến, không có sự hiểu biết đúng đắn. Người thiếu chánh kiến chẳng khác nào con dòi sống trong đống phân. Con dòi sống trong phân, lấy phân làm thực phẩm, phân là chỗ cư trú lý tưởng nhất. Nếu lấy cây khươi một con dòi ra khỏi đống phân, nó sẽ ngọ ngoạy và cố gắng trở lại đống phân.

Chúng ta cũng thế, thầy giáo dạy chúng ta hãy nhìn một cách đúng đắn nhưng chúng ta cảm thấy không hài lòng, chúng ta chỉ làm theo lời thầy trong chốc lát rồi lại vội vã trở về với thói quen cố hữu và quan kiến riêng của mình. Bởi vì chúng ta cảm thấy rằng chỉ có những thói quen và quan kiến này mới đem lại an vui, hạnh phúc cho chúng ta. Nếu không nhìn thấy những hậu quả tai hại của tà kiến thì chúng ta không thể nào rời bỏ những quan kiến sai lầm này được.

Việc hành thiền thật khó khăn, bởi thế chúng ta cần phải lắng nghe lời dạy của thầy, loại bỏ sự hiểu biết sai lầm, không chấp giữ quan kiến riêng của mình. Đó là những điều cần thiết trong việc thực hành. Nếu có chánh kiến thì bất cứ đi đến nơi nào, chúng ta cũng an vui, hạnh phúc.

Cái Đinh Vít

Nếu vì hành thiền mà bạn thấy rõ chân lý, thì đau khổ không còn là vết thương đối với bạn, cũng như cái đinh vít đã được tháo mở. Khi bạn vặn cái đinh vít ngược chiều kim đồng hồ, nó sẽ được tháo mở. Cũng vậy, tâm rút lui, xả bỏ tất cả, không còn bị cột chặt vào tốt, xấu, quyền sở hữu, khen, chê, hạnh phúc và đau khổ. Không hiểu ra chân lý chẳng khác nào siết chặt cái đinh vít. Bạn vặn chặt nó cho đến khi nó phản ứng lại và bạn sẽ bị đau khổ về mọi chuyện. Khi tháo mở tất cả, bạn sẽ tự do và an lạc.

Cái Bẫy

Đức Phật dạy rằng: đối tượng của các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) là một bẫy mồi, bẫy của ma vương. Đó là bẫy của người thợ săn và thợ săn chính là ma vương. Nếu thú vật bị vướng vào bẫy của người thợ săn thì thật tội nghiệp. Chúng bị giữ chặt, không vùng vẫy thoát thân được, chỉ còn nằm chờ người thợ săn đến. Bạn có bao giờ thấy người ta bẫy chim chưa? Chim vừa đụng đến bẫy thì cổ bị vướng vào bẫy. Một cái vòng giữ chặt lấy cổ, chim có bay hướng nào cũng không thoát được. Càng vùng vẫy, vòng cổ càng bị thắt chặt hơn và chim chỉ còn nước đợi người chủ của chiếc bẫy đến bắt. Khi người này đến, nó lo sợ cuống cuồng, nhưng cổ đã bị thắt chặt, không cách nào vượt thoát. Bẫy của “cảnh sắc đẹp đẽ, âm thanh hay, mùi hương, vị ngon, sự xúc chạm hài lòng và các pháp tốt đẹp” đều như nhau cả, chúng bắt và cột cứng chúng ta.

Hàng Trăm Thứ

Người ta chỉ nghĩ đến niềm vui khi làm chủ một vật gì mà chẳng hề nghĩ đến những rắc rối kèm theo. Khi còn là một sa di, tôi thường nói đến hạnh phúc của sự giàu sang, có hàng trăm tôi trai tớ gái, hàng trăm trâu bò và hàng trăm các thứ khác… Người ta thường nghĩ như vậy. Nhưng bạn hãy tưởng tượng xem, phải chăm nom một trăm con bò, một trăm con trâu, chưa kể đến hai trăm tôi trai tớ gái, sẽ khổ sở đến dường nào? Người ta chẳng hề nghĩ đến những điều khó khăn này. Họ chỉ nghĩ đến việc có nhiều của cải, trâu bò, tôi trai tớ gái mà thôi. Theo tôi thì năm chục con là quá nhiều rồi, chỉ việc cột dây xỏ mũi cho chúng cũng khiến bạn nhức đầu. Nhưng mấy ai nghĩ đến điều này? Họ chỉ muốn có càng nhiều của cải càng tốt.

Thân Thể và Vẻ Đẹp Của Nó

Chúng ta bị mê hoặc bởi thân thể và vẻ đẹp của nó, nhưng thực sự nó bẩn thỉu. Giả sử không tắm trong một tuần, chúng ta có dám đến gần nhau không? Hôi lắm! Khi ra mồ hôi, như khi làm việc nặng chẳng hạn, mùi này thật khó ngửi. Lúc tắm rửa, mùi thơm của xà phòng thay chỗ cho mùi hôi của cơ thể. Xà phòng có thể tạm thời làm cho thân thể thơm tho, nhưng mùi hôi của cơ thể vẫn còn đó. Khi mùi thơm của xà phòng bay hết rồi thì mùi hôi của cơ thể sẽ (nồng nặc) trở lại. Ta thường nghĩ rằng cơ thể này đẹp đẽ, đáng yêu và khoẻ mạnh. Ta thường nghĩ rằng ta chẳng sẽ bao giờ già, đau và chết. Trong thực tế, ta bị cơ thể mê hoặc mà quên mất tâm. Tâm mới chính là chỗ nương tựa thực sự.

(Diệu Pháp dịch)

Đọc thêm các bài Pháp của Ngài Ajhan Chah – Dám nhìn vào đau khổ :  Bấm vào đây

Bài Pháp của Ngài AJAHN CHAH: Dám Nhìn Vào Đau Khổ

Không muốn nhìn vào đau khổ, ta sẽ chẳng bao giờ hiểu được đau khổ dù có tái sinh thêm bao nhiêu lần nữa. Đau khổ là một sự thật cao thượng. Một khi can đảm đối diện với nó, ta sẽ tìm cách thoát ra đau khổ. Khi đường đi bị chặn lối, ta sẽ nghĩ cách vượt qua. Làm việc ngày đêm, rồi ta sẽ qua được khoảng đường bị chặn. Trí tuệ phát sinh như thế khi gặp khó khăn. Vậy khi không nhìn sâu vào đau khổ, ta sẽ không giải quyết được đau khổ, mà chỉ hờ hững len qua đau khổ.

Người dịch: Diệu Pháp Suddhamma

DÁM NHÌN VÀO ĐAU KHỔ

Nó dính vào da, thấm qua thịt, từ đó thẩm thấu vào xương. Như côn trùng đục vỏ cây, thân cây và khoét vào lõi cho đến khi cây chết.

Chúng ta lớn lên như thế. Cha mẹ dạy ta bài học tham ái, níu giữ, làm cho ta tin rằng mình là một cá nhân, một bản thể sống động và mọi thứ xung quanh là của chúng ta, do ta làm chủ. Từ khi sinh ra, ta đã được dạy như thế. Ta nghe mãi những điều như thế và rồi nó nhập tâm, trở thành lối suy nghĩ, cách sống của chúng ta. Chúng ta được dạy phải tìm kiếm để có được thứ này thứ nọ và phải cố gìn giữ chúng, vì chúng là tài sản của ta. Đây là tất cả những gì cha mẹ chúng ta biết và dạy cho chúng ta. Và những ý tưởng này ăn sâu trong tâm, trong xương tủy chúng ta.

Khi bắt đầu hành thiền và nghe sư giảng pháp, những điều ta nghe quả thật khó hiểu. Ta khó lòng hiểu được ý nghĩa thâm sâu. Nơi đây, ta được dạy đừng nhìn sự vật và hành động theo cách mà ta thường làm nữa. Khi nghe vậy, điều này không thấm nhập vào tâm ta được, ta chỉ nghe mà chẳng thực sự hiểu gì.

Ta ngồi và nghe giáo pháp, nhưng chỉ có âm thanh rơi rớt vào tai. Lời giảng chẳng nhập tâm và làm cho ta tư duy, thay đổi. Như người đánh quyền anh cứ đấm mà đối phương vẫn trơ trơ chẳng hề quỵ ngã. Chúng ta bị vướng kẹt trong ngã mạn, khó gỡ ra. Bậc trí nói rằng dời một ngọn núi từ nơi này sang nơi khác vẫn dễ hơn chuyển dịch lòng kiêu căng, ngã mạn nơi người.

Chúng ta có thể dùng chất nổ san bằng ngọn núi và dời dọn đất đá đi. Nhưng sự cố chấp, bám níu vào lòng ngã mạn này thì ôi thôi… Bậc trí cứ dạy mãi điều này cho đến ngày ta nhắm mắt, nhưng các vị không thể loại trừ ngã mạn trong ta. Nó quấn chặt, níu chặt ta. Những suy nghĩ sai lầm và xấu xa quá nhiều, dày đặc và không phân biệt nổi, mà ta vẫn không hề hay biết. Vì vậy, bậc trí nói rằng loại trừ ngã mạn và chuyển đổi suy nghĩ sai lầm (tà kiến) thành hiểu biết đúng đắn (chánh kiến) là điều khó làm nhất trên đời!

Chuyển đổi những phàm phu như chúng ta (putthujana) trở thành người đức hạnh quả khó vô cùng. Putthujana là người tăm tối, tâm trí luôn bị che lấp trong bóng đen dày đặc. Bậc đạo hạnh, trí tuệ làm mọi việc trở nên sáng sủa hơn. Khi bậc đạo hạnh, trí tuệ dạy phàm phu cách mở mang trí tuệ, họ lại cảm thấy không cần thiết, vì chẳng hiểu tình trạng tăm tối của mình. Và rồi họ cứ mãi trôi dạt, lang thang với cái tâm hoài nghi, u mê.

Khi đi ngang qua một đống phân trâu, ta chẳng nghĩ nó là của mình và chẳng muốn hốt lấy. Ta cứ mặc nó ở đấy, vì ta biết nó là cái gì.

Đó là “cái tốt” của sự dơ bẩn bất tịnh. Cái xấu xa có thể là thức ăn của người xấu xa. Nếu dạy họ những điều tốt, họ chẳng hứng thú muốn nghe mà muốn sống cái kiểu họ thích, vì họ chẳng thấy được những tai hại trong lối sống đó. Không thấy những tai hại, họ thấy chẳng cần phải điều chỉnh, sửa đổi gì. Nhưng nếu bạn hiểu rằng: “đống phân chẳng có giá trị gì, chẳng thể sánh với một hạt vàng tí ti”, thì bạn chỉ muốn có vàng, chẳng muốn lấy đống phân trâu nữa. Không nhận ra điều này (ngã mạn), bạn mãi mãi là chủ nhân của một đống phân. Và khi đó, nếu có ai đổi với bạn một viên kim cương hay hồng ngọc, bạn sẽ chẳng ngó ngàng tới!

Đó là “cái tốt” của sự dơ bẩn, bất tịnh. Vàng, trang sức và kim cương được cho là quý giá trong cõi người; trong khi những thứ thối rữa lại là món ngon, cái tốt với ruồi nhặng và một số côn trùng. Nếu ta xịt dầu thơm vào đồ thối rữa, chúng sẽ bỏ đi. Cái mà những người có tâm ô nhiễm và suy nghĩ sai lầm (tà kiến) cho là tốt cũng giống như đồ thối rữa mà ruồi nhặng cho là ngon vậy. Đó là thứ hôi hám, không thơm tho, nhưng họ cho là thơm tho dù ta có nói gì đi nữa. Họ không dễ dàng thay đổi tư duy và dạy họ quả là điều chẳng dễ dàng.

Nếu ta gom hoa tươi lại một nơi, ruồi chẳng thèm đến. Dù bạn trả tiền cho chúng, chúng cũng chẳng buồn đến. Nhưng khi có xác thú chết hay thứ gì thối rữa, ruồi sẽ lập tức bay đến mà chẳng cần bạn mời. Tà kiến làm chúng sinh thỏa thích theo cách thức như thế. Mùi hôi thối lại cho là thơm tho, rồi bu đến thỏa thích, đam mê trong đó.

Những thứ ngọt ngào với loài ong chẳng là món ngọt ngào của loài ruồi nhặng. Ruồi chẳng thấy có gì tốt và giá trị trong vị hoa ngọt nên chúng chẳng thích thú gì. Có những khó khăn trong việc hành thiền, nhưng bất luận làm việc gì, ta phải đương đầu và vượt qua khó khăn để sau đó có được sự thoải mái. Trong việc hành thiền, ta bắt đầu với Khổ Đế (dukkha), định luật bất toại nguyện của kiếp sống. Nhưng ngay khi kinh nghiệm đau khổ, ta sợ hãi và không muốn nhìn nó. Đau khổ là một sự thật, nhưng ta lại muốn lãng tránh nó, cũng như ta không muốn thấy người già lụm cụm mà chỉ muốn thấy người trẻ trung.

Không muốn nhìn vào đau khổ, ta sẽ chẳng bao giờ hiểu được đau khổ dù có tái sinh thêm bao nhiêu lần nữa. Đau khổ là một sự thật cao thượng. Một khi can đảm đối diện với nó, ta sẽ tìm cách thoát ra đau khổ. Khi đường đi bị chặn lối, ta sẽ nghĩ cách vượt qua. Làm việc ngày đêm, rồi ta sẽ qua được khoảng đường bị chặn. Trí tuệ phát sinh như thế khi gặp khó khăn. Vậy khi không nhìn sâu vào đau khổ, ta sẽ không giải quyết được đau khổ, mà chỉ hờ hững len qua đau khổ.

Thực hành theo cách hướng dẫn của tôi, người ta sẽ kinh nghiệm ít nhiều đau khổ, vì đau khổ là con đường đưa Đức Phật đến giải thoát. Ngài muốn chúng ta thấy đau khổ, thấy nguyên nhân gây ra đau khổ, sự chấm dứt đau khổ và con đường. Đây là cách thức mà các bậc giác ngộ thoát khỏi đau khổ. Nếu bạn không muốn đi theo con đường này, sẽ không còn con đường nào khác. Để thoát ra đau khổ, cách duy nhất là hiểu đau khổ, nguyên nhân gây ra đau khổ, sự chấm dứt và con đường thoát ra đau khổ. Các bậc Thánh nhân, từ vị Thánh Nhập Lưu trở đi, đều thoát ra đau khổ bằng con đường này. Vậy ta cần phải hiểu đau khổ.

Khi hiểu đau khổ, ta sẽ thấy đau khổ hiển hiện trong mọi thứ mà ta kinh nghiệm. Có người cảm thấy mình chẳng thực sự khổ. Nhưng thực hành Phật pháp là để giúp ta thoát khỏi đau khổ. Vậy ta cần làm gì để đừng khổ thêm nữa? Khi đau khổ có mặt, ta cần quan sát nó cho kỹ càng để thấy được nguyên nhân phát sinh đau khổ. Khi thấy được nguyên nhân, ta hành thiền để loại trừ nguyên nhân. Để chấm dứt đau khổ, ta phải hiểu con đường/cách thức tu tập (thiền Minh Sát). Một khi đã đi trên con đường đưa đến giải thoát và hoàn tất việc tu tập, đau khổ không còn sinh khởi được nữa. Và đây là con đường giải thoát trong Phật giáo.

Kiên quyết chống lại những thói quen xấu làm ta đau khổ. Vì sợ đau khổ, nên khi có điều gì làm ta khổ, ta không muốn làm. Ta thích cái gì có vẻ tốt đẹp, nên ta cảm thấy làm cái gì gây ra đau khổ là xấu. Nhưng nghĩ vậy là sai. Đau khổ là một sự thật. Nếu đau khổ sinh khởi trong tâm, nó sẽ là nguyên nhân giúp ta nghĩ cách thoát khổ. Nó làm ta suy gẫm, và ta ngủ không ngon vì ta muốn biết điều gì xảy ra, muốn biết nguyên nhân và hậu quả.

Trong hoàn cảnh thuận lợi, người ta không thể phát triển trí tuệ; vì lúc này, họ đang say ngủ. Như con chó khi đã ăn no sẽ không muốn làm gì. Nó có thể ngủ suốt ngày, nó không sủa kẻ trộm vì quá no, quá mệt. Nhưng nếu cho nó ăn ít thôi, chó sẽ tỉnh táo và năng động. Khi đó, nếu có ai đó quanh quẩn dòm ngó, nó sẽ nhảy xổ ra và sủa. Bạn có thấy vậy không?

Loài người bị giam cầm trong thế gian này với nhiều phiền phức, trở ngại. Do vậy, chúng ta luôn hoài nghi, rối rắm, lo lắng. Đây không phải là chuyện đùa, mà là phiền phức thật sự. Vậy có cái gì đó mà ta cần loại bỏ. Để vun bồi và phát triển tâm linh, ta phải dám xả bỏ thân mạng này. Ta phải hạ quyết tâm sẵn sàng từ bỏ thân mạng này. Ta hãy nhìn Bồ Tát hành hạnh xả ly, khước từ: thuộc dòng dõi cao sang quyền quý nhưng Ngài từ bỏ mọi thứ và không hề quay lại. Là người thừa kế của cải và quyền lực nhưng Ngài buông bỏ, khước từ tất cả.

Khi nói về giáo pháp vi diệu, nhiều người lo sợ, không dám bước vào. Ngay cả câu: “không làm điều ác”, nhiều người không làm nổi. Cho nên tôi tìm mọi cách để giải quyết điều này. Tôi thường nói: dù ta thỏa thích hay bực bội, hạnh phúc hay đau khổ, đang khóc than hay ca hát vui vẻ, ngày nào còn ở trong thế giới này là ta vẫn đang sống trong cái lồng. Ta không thoát ra khỏi những tù túng bị giam cầm trong lồng. Người giàu đang sống trong lồng. Người nghèo đang sống trong lồng. Dù đang hát ca hay nhảy múa, bạn đang hát ca, nhảy múa trong lồng. Dù đang xem phim, bạn đang xem phim trong lồng.

Là cái lồng gì vậy? Cái lồng của sinh, già, bệnh, chết. Chúng ta đang bị giam cầm trong thế giới này. Ta cứ nghĩ: “Cái này là của tôi, cái đó thuộc về tôi” mà chẳng biết mình thực sự là ai và đang làm gì. Ta thực đang gom góp, tích trữ đau khổ cho mình. Cái làm khổ chúng ta chẳng ở đâu xa, hãy nhìn vào ta thì sẽ biết. Dù hạnh phúc, thoải mái đến đâu, một khi đã được sinh ra, ta không tránh khỏi già nua, ta phải bệnh và chết. Đây chính là đau khổ, ngay bây giờ và tại đây.

Ta luôn bị hành hạ bởi đau đớn và bệnh tật, và điều này có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Như thể ta đã ăn cắp cái gì, nên nó có thể đến bắt ta vào bất cứ lúc nào. Hoàn cảnh ta là vậy: những hiểm nguy, phiền phức luôn rình rập ta. Ta đang sống giữa những hiểm nguy: sinh, già, bệnh thống trị chúng ta và ta chẳng thể chạy đâu để trốn thoát. Nó có thể đến bắt ta vào bất cứ lúc nào, lúc nào cũng là cơ hội thuận tiện cho nó. Và ta phải đầu hàng nó, chấp nhận tuân theo ý nó. Ta phải là kẻ có tội, thì bản án sẽ không quá nặng nề. Nếu không, ta phải đau khổ nhiều hơn. Nếu nhận tội, ta sẽ không bị giam giữ lâu.

Khi cơ thể này được sinh ra, nó chẳng thuộc về ai. Như thiền đường này: sau khi xây xong, nhện đến ở trong đó. Côn trùng, rắn rít có thể vào ở trong đó. Con gì cũng có thể vào ở trong đó. Thiền đường chẳng phải của riêng ta mà là của tất cả.

Thân này cũng vậy. Chẳng có thân thể nào là của chúng ta. Nhiều thứ đến ở và nương vào thân này. Bệnh tật, đau nhức, già nua đến ở trong thân, và chúng ta sống chung với chúng. Khi cơ thể này đến hồi bệnh hoạn, già nua và chết, chẳng phải là ta chết. Vậy đừng bám níu gì nơi thân này mà hãy quán tưởng sự việc như thế. Làm được như vậy, sự bám níu dính mắc vào thân sẽ dần dần không còn. Khi nhìn sự vật đúng đắn, hiểu biết sai lầm sẽ không còn.

Chính tái sinh tạo ra gánh nặng này cho ta. Nhưng người ta không chấp nhận điều này. Chúng ta nghĩ rằng không tái sinh quả thật tệ hại, và chết mà không tái sinh thêm nữa là điều tệ hại nhất trên đời. Và ta thường nghĩ đến những gì mình muốn có trong tương lai, ao ước thêm rằng: “Nguyện tôi được sinh ra trong cõi chư thiên, hay làm người giàu có trong kiếp sau.” Nghĩ vậy là ta muốn gánh cái gánh nặng hơn, vì ngỡ rằng tái sinh đem cho ta nhiều hạnh phúc. Chỉ chú tâm thực hành giáo pháp quả là khó khăn vô cùng. Do vậy, chúng ta cần làm sáng tỏ, cần tìm hiểu điều này cho ra lẽ.

Những suy nghĩ như trên là hoàn toàn khác xa với những gì Đức Phật dạy. Suy nghĩ như thế là tạo thêm gánh nặng. Đức Phật dạy ta buông bỏ nhưng ta lại nghĩ: “Tôi không thể buông được.” Cho nên ta cứ tiếp tục cưu mang và gánh càng lúc càng nặng. Tái sinh làm ra gánh nặng.

Hơn thế nữa, bạn nghĩ rằng tham ái có giới hạn của nó chăng? Tới mức nào thì tham ái mới được thỏa mãn? Có thật là tham ái biết thỏa mãn? Nếu suy gẫm, bạn sẽ thấy không gì có thể thỏa mãn được loại tham ái đầy mù quáng. Nó cứ đòi thêm, và đến mức nó làm ta đau khổ đến chết đi được, nó vẫn chưa thỏa mãn.

Vậy ta cần nghĩ ra một cách thức dung hoà, hợp lý. Nói về áo quần, ta cần mấy bộ? Nói về thức ăn, ta ăn bao nhiêu? Trong một bữa ăn, ta có thể ăn tối đa là hai dĩa, và vậy là đủ. Nếu biết đủ, ta sẽ thoải mái và hạnh phúc. Nhưng ít ai làm được điều này.

Đức Phật dạy cách thức để được giàu có (santitigatha), đó là hãy bằng lòng với những gì mình có. Ai bằng lòng với cái mình có, kẻ đó là người giàu.

Điều này đáng cho ta học hỏi. Lời Phật dạy đáng cho ta học hỏi và suy gẫm. Trước hết, Ngài dạy ta sống có đạo đức. Nếu có đủ của cải nuôi thân, nhờ đó ta sẽ không sa đọa để phải tái sinh xuống cảnh giới thấp.

Nhưng thực hành giáo pháp thuần khiết là sâu sắc, vượt xa hơn điều này nhiều; và sẽ có người không hiểu được. Chẳng hạn như Ngài tuyên bố rằng tái sinh đã cạn kiệt và Ngài sẽ không còn tái sinh thêm nữa. Nghe vậy làm bạn khó chịu. Qua đây, Đức Phật muốn nói rằng chúng ta không nên tái sinh vì sinh là khổ. Ngài nhắm vào sự tái sinh, quán tưởng và nhận ra sự nặng nề nơi đó. Một khi có sinh ra, mọi đau khổ sẽ ập đến. Đau khổ cùng sinh khởi với tái sinh. Sinh ra trong cõi đời, ta có mắt, miệng, mũi. Chúng đến, chúng xuất hiện vì có tái sinh. Nhưng khi nghe chết và không tái sinh nữa, ta cảm thấy như có cái gì đổ vỡ hoàn toàn. Ta không muốn đến đó. Nhưng giáo pháp thâm sâu của Đức Phật là ở chỗ đó!

Vì sao ta đang khổ? Vì ta đã sinh ra. Vì vậy, ta được dạy phải làm cho tái sinh chấm dứt. Tái sinh chấm dứt không có nghĩa là cơ thể này sinh ra và cơ thể này chết đi. Nói vậy thì đứa trẻ cũng hiểu được. “Hơi thở chấm dứt, cơ thể nằm yên bất động” là cách ta thường nghĩ khi nói về cái chết. Nhưng người chết đang thở là cái ta không biết. Người chết đang đi, nói, cười là cái ta chưa hề nghĩ qua. Ta chỉ biết chết là cái xác không còn thở.

Khi nói ai đó ra đời, ta nghĩ ngay đến một người phụ nữ vào bệnh viện sinh con. Nhưng bạn có hay biết lúc nào tâm sinh ra, chẳng hạn lúc mà sự bực bội với điều gì đó sinh khởi? Có khi yêu thương ra đời, có khi sân hận ra đời, hài lòng rồi không hài lòng…, tất cả những trạng thái ấy sinh khởi, chúng ra đời.

Và ta khổ vì điều này. Khi mắt thấy cái gì không hài lòng, đau khổ sinh khởi. Khi tai nghe cái gì bạn thích, đau khổ cũng ra đời. Chẳng có gì ngoài đau khổ.

Đức Phật nói ngắn gọn rằng chỉ có một khối đau khổ. Đau khổ sinh ra và đau khổ mất đi. Có vậy thôi. Ta nhào tới và nắm bắt lần nữa rồi lần nữa, nhào tới sự sinh khởi, nhào tới sự hoại diệt mà chẳng bao giờ hiểu nó.

Khi đau khổ sinh khởi, ta gọi nó là đau khổ. Khi nó mất, ta cho là hạnh phúc. Sinh ra và mất đi là chuyện cũ rích. Chẳng còn gì ngoài sinh diệt của thân tâm và ta được dạy quan sát thân tâm này sinh diệt. Tóm lại, chẳng có hạnh phúc, chỉ có đau khổ. Ta hiểu đau khổ là đau khổ khi nó phát sinh, và khi đau khổ mất đi, ta cho đó là hạnh phúc. Ta thấy và cho là vậy, nhưng không phải vậy. Chỉ có đau khổ sinh ra và mất đi, đau khổ sinh diệt và sinh diệt, trong khi ta nhào tới và chộp lấy nó. Hạnh phúc hiện ra và ta cảm thấy vui, đau khổ hiện ra và ta trở nên buồn bã. Nhưng chúng là như nhau: liên tục sinh rồi diệt. Có sự sinh ra là có cái gì đó hiện hữu; đến lúc diệt đi, cái đó không còn. Đây là điểm mà ta nghi ngờ. Ta được dạy là đau khổ sinh và diệt, ngoài ra chẳng còn gì khác. Khi nhìn sâu vào trong, bạn chỉ thấy đau khổ. Nhưng chúng ta lại không thấy rõ điều này.

Ta không thấy rõ rằng chỉ có đau khổ vì khi đau khổ mất, ta lấy đó làm hạnh phúc. Rồi ta tóm lấy nó và vướng kẹt ở đó. Ta không biết rằng cái liên tục diễn ra chỉ là một chuỗi sinh và diệt.

Đức Phật tóm tắt rằng chỉ có sự sinh diệt và không còn gì ngoài sinh diệt. Quả thật khó nghe quá! Nhưng những ai khao khát sống với giáo pháp sẽ cảm thấy mình chẳng cần nắm giữ bất cứ cái gì mà vẫn an vui tự tại. Đây là sự thật.

Sự thật là trong thế giới này, không có cái gì làm được gì cho ai. Không có gì để lo, chẳng có gì đáng để than khóc hay vui cười. Không có gì để phiền muộn hay sung sướng. Nhưng người đời thường nghĩ như thế.

Chúng ta có thể chẳng gặp nguy hại gì khi nói năng, giao tiếp với người khác theo cái cách mà người đời thường làm. Nhưng nếu ta cứ suy nghĩ theo cái lối mà người đời thường nghĩ, nước mắt sẽ rơi và đau khổ ập đến.

Trong thực tế, khi liên tục quan sát các pháp và khi thực sự hiểu giáo pháp, ta thấy chẳng có gì ngoài những sinh diệt. Chẳng có hạnh phúc hay đau khổ. Khi không còn hạnh phúc hay đau khổ, tâm trở nên bình yên. Bao lâu mà hạnh phúc hay đau khổ vẫn còn, chừng đó hình thành và tái sinh vẫn tiếp tục.

Ta thường tạo một loại nghiệp: ngăn cản đau khổ để có hạnh phúc. Đó là cái ta muốn. Nhưng cái ta muốn không là loại an lạc thật sự, mà là hạnh phúc và đau khổ. Mục đích của Phật pháp là giúp ta tạo ra loại nghiệp vượt lên hạnh phúc- đau khổ và đem đến loại an lạc thực sự. Nhưng ta cho rằng hạnh phúc sẽ đem đến an lạc. Và nếu có hạnh phúc là ta thỏa mãn rồi.

Vậy con người muốn có nhiều thứ, càng nhiều càng tốt. Đó là cách ta thường nghĩ. Làm điều tốt sẽ tạo quả tốt và nếu hưởng được quả tốt là ta vui rồi. Chúng ta cho rằng mình chỉ cần làm bấy nhiêu thôi và dừng lại ở đó. Nhưng rồi cái tốt đó đưa đến đâu? Nó không tồn tại lâu. Và ta cứ tới lui kinh nghiệm tốt xấu, ngày đêm ra sức tóm bắt cái làm ta cảm thấy vui.

Điều đầu tiên Đức Phật dạy ta là ‘tránh làm điều ác’ và rồi ‘làm điều thiện lành’. Sau đó, Ngài dạy tránh làm điều ác lẫn điều thiện lành, vì dính mắc vào đó chính là một nhiên liệu dễ cháy. Khi có xăng dầu, nó sẽ bùng lên thành lửa. Tốt hay xấu, thiện hay ác đều là nhiên liệu cả.

Nói vậy là làm khổ người ta, vì chẳng ai có thể làm như vậy được. Nên ta quay lại từ đầu dạy mọi người giữ giới. Đừng hại người khác, có trách nhiệm với việc mình làm và đừng lạm dụng hay hại ai. Đức Phật dạy như vậy. Nhưng chỉ làm vậy thôi thì chưa đủ.

Vì sao ta ở đây, trong điều kiện này? Vì tái sinh. Trong bài kinh Chuyển Pháp Luân, Đức Phật dạy: “Tái sinh chấm dứt, đây là kiếp sống cuối cùng, Như Lai sẽ không còn tái sinh thêm nữa.” Thực hành giáo pháp đúng nghĩa là gì? Ta phải hành cho đúng. Có nhiều cách hành thiền, nhưng cái chính là nó phải đưa bạn đến buông bỏ, chấm dứt, không còn tham ái, dính mắc nữa. Như con người kiếm sống bằng nhiều cách, có người là nông dân, thương gia, công chức, kỹ sư, công nhân làm ra những sản phẩm khác nhau. Nói chung, mọi người đều kiếm sống. Tương tự như vậy, chúng ta cùng thực hành giáo pháp dù cách thức có khác nhau.

Giáo pháp ở đâu? Giáo pháp đang ngồi đây cùng với chúng ta. Khi già, bạn đừng nghĩ có cái gì không ổn. Khi mõi lưng, đau bụng, đừng nghĩ có gì không ổn. Khi khổ sở, đừng nghĩ có gì không ổn. Khi hạnh phúc, đừng nghĩ có gì không ổn. Tất cả đều là pháp. Đau khổ đơn giản là đau khổ. Hạnh phúc đơn giản là hạnh phúc. Nóng chỉ là nóng. Lạnh chỉ là lạnh. Chẳng phải là: “tôi hạnh phúc, tôi đau khổ, tôi tốt, tôi xấu, tôi có được này, và tôi mất mát cái kia.” Ta có gì để mất? Chẳng có gì cả. Có được cái gì đó là pháp. Mất mát cũng là pháp. Hạnh phúc, thoải mái là pháp. Dễ bị bệnh cũng là pháp. Ta chỉ hay biết chúng và chẳng nên dính mắc, bám níu vào bất kỳ những điều nào như thế. Có hạnh phúc, bạn nhận ra rằng: “Ồ, hạnh phúc là vô thường, không tồn tại dài lâu.” Khi đau khổ, bạn nhận ra rằng: “Ồ, đau khổ là vô thường, không tồn tại dài lâu.” “Cái này tốt quá” là vô thường, không tồn tại dài lâu. “Cái kia xấu quá” là vô thường, không tồn tại dài lâu. Chúng chỉ là vậy, cho nên đừng cố bám níu chúng làm gì.

Đức Phật dạy về vô thường. Vậy vô thường là gì? Là cách thức các pháp diễn ra theo đường hướng riêng mà chẳng chìu theo ý của ai. Đây là sự thật cao thượng. Vô thường chi phối cả thế giới này và định luật vô thường tồn tại vĩnh viễn. Đây là điểm mà ta hay bị đánh lừa, cho nên ta cần quan sát, tìm hiểu kỹ càng. Bất cứ điều gì xảy ra, ta quan sát chúng đúng như chúng là vậy. Mọi sự vật liên tục chuyển động, đổi thay. Thân xác này cũng liên tục đổi thay. Các pháp có điều kiện liên tục chuyển động, đổi thay. Ta không thể làm chúng ngưng nghỉ và chúng chẳng thể ngưng nghỉ. Không ngưng nghỉ mà liên tục thay đổi chính là bản chất của vô thường. Chừng nào ta không còn chống cự lại định luật vô thường này, chừng nào ta có thể chấp nhận sự thật này, chừng ấy ta kinh nghiệm hạnh phúc, dù ở nơi đâu. Khi ấy, ngồi đâu ta cũng hạnh phúc, ngủ đâu ta cũng hạnh phúc. Khi tuổi già đến, đừng hoảng sợ. Khi đứng dậy và cảm thấy đau lưng, bạn nghĩ: “Phải vậy thôi.” Phải vậy thôi, chống cự làm gì. Khi hết đau, bạn nghĩ: “Ồ, đỡ hơn nhiều”, nhưng nó chẳng đỡ hơn đâu. Vì bạn chưa chết, cái đau sẽ trở lại. Các pháp cứ liên tục thay đổi đến đi như thế, cho nên bạn cần hành thiền hướng tâm đến quan sát, ghi nhận chúng; đừng để tâm trôi vuột. Đừng quá tin tưởng vào cái gì, mà hãy tin tưởng vào chánh pháp. Cuộc sống chỉ là vậy, đừng tin vào hạnh phúc hay đau khổ, cũng đừng theo đuổi bất cứ điều chi.

Làm được như vậy, ta chẳng còn lo lắng dù chuyện gì xảy ra đi nữa, vì ta biết chẳng có gì chắc chắn, bền vững, tồn tại dài lâu. Thế giới này vốn là vậy. Và rồi có một con đường dành cho ta, một con đường xoay chuyển đời ta và che chở cho ta. Đó là con đường của chánh niệm, tỉnh giác và trí tuệ vô biên. Một khi ta đã đi trên con đường này, chẳng ai có thể dối lừa ta được nữa. Và một khi hướng về đây, ta luôn bắt gặp chánh pháp, luôn được cận kề chánh pháp.

Đức Phật nhấn mạnh việc tu tập: tránh làm điều ác, giữ tâm trong sạch và phát triển trí tuệ. Thời nay, chúng ta tìm kiếm phước báu nhưng chẳng mấy ai trong số chúng ta nghĩ về và hiểu rằng mình cần từ bỏ điều ác. Trên con đường chánh đạo, ta cần tránh làm điều ác trước và làm điều thiện, tạo phước sau đó. Không tránh làm điều ác, ta sẽ dùng tâm gì để làm điều thiện? Thiện nghiệp sẽ không sinh khởi được vì chẳng có chỗ cho nó sinh khởi. Vậy ta phải dọn sạch rác rưởi trước khi đem những thứ sạch sẽ vào.

Không hiểu rõ điều này, ta không thể giải quyết vấn đề. Nhưng chẳng mấy ai muốn trở lại điểm khởi đầu để suy ngẫm và hiểu rõ điểm căn bản này trong Phật pháp. Nhưng nếu ta có niềm tin vào Phật pháp, ta sẽ được đền bù xứng đáng. Với lòng thành kính tin vào Tam Bảo, việc tu tập sẽ thuận lợi, dễ dàng.

 

Giải thích:

“Có nhiều cách hành thiền” có nghĩa là có người hành thiền Định trước và thiền Minh Sát sau, có người kết hợp cả hai hay có người hành thiền Minh Sát trước và thiền Định sau. Nhưng để giải thoát khỏi mọi đau khổ, ta phải hành thiền Minh Sát, cách thức duy nhất mà Đức Phật đã tuyên bố trong bài kinh Đại Niệm Xứ.

Đọc thêm các bài Pháp của Ngài Ajhan Chah – Người nghiện rượu : Bấm vào đây

 

 

 

 

Sách: Những Lời Dạy Của Đức Phật

 

Biên soạn: Diệu Pháp Sudhamma

LỜI TỰA

Trải qua bốn a tăng kỳ và 100,000 đại kiếp trái đất, Đức Phật Thích Ca đã không ngừng vun bồi ba la mật để có thể chỉ ra con đường cho những ai mưu cầu hạnh phúc. Phật pháp, khi được hiểu đúng đắn và áp dụng hợp lý vào đời sống, sẽ đem đến nhiều lợi lạc cho nhân loại.

Suốt 45 năm rong ruổi các no đường, đức độ, sự tận tụy hy sinh và trí tuệ của Đức Phật làm rung động bao nhiêu trái tim. Giáo pháp mà Ngài khéo giảng đã, đang và vẫn tiếp tục đưa bao người lầm lạc về no chánh, giúp người thoát vòng sinh tử, trở nên thánh thiện và cao thượng.

Chúng ta có thể làm nhiều điều thiện lành và hưởng được hạnh phúc trần gian ở cõi người hay chư thiên. Nhưng cao hơn hạnh phúc trần gian là loại hạnh phúc có được cái tâm tĩnh lặng (do có sự định tâm). Và cao hơn hạnh phúc tĩnh lặng là loại hạnh phúc giải thoát (do hành thiền Minh Sát). Vì thiền Minh Sát (hay Tứ Niệm Xứ) là cách thức duy nhất để thanh lọc tâm, chấm dứt đau khổ, khóc than kinh nghiệm hạnh phúc giải thoát cao thượng, Đức Phật luôn hướng người nghe đến việc hành thiền trong khi giảng pháp. Ngài nói đến Bố thí – Giữ giới – Hành thiền hay Giới – Định – Tuệ, và hướng người nghe đến giáo pháp vi diệu thâm sâu về vô ngã, một loại trí tuệ của các bậc Thánh nhân. Do vậy, trong quyển sách này, một số bài kinh được chọn lựa theo chủ đề, sắp xếp từ căn bản lên cao dần (có kèm theo chú giải và phụ chú giải) thích hợp cho việc tựhọc, nhằm giúp Phật tử hiểu rõ hơn lời Phật dạy.

Phần I của quyển sách giới thiệu đến độc giả những kiến thức Phật pháp căn bản liên quan đến đức tin đúng đắn về Tam Bảo, bố thí, chánh mạng, hồi hướng phước báu và luật nhân quả. Trong phần II, các thuật ngữ như “tứ đại”, “ngũ uẩn”, “ngũ uẩn thủ”, sáu nội căn”, “sáu ngoại cảnh”, “chánh niệm”, “vô ngã”… liên quan đến thiền Minh Sát được giới thiệu và giải thích ngắn gọn, nhằm giúp Phật tử dễ dàng lĩnh hội ý nghĩa của các bài giảng trong các khóa thiền Minh Sát.

“Như Lai chỉ là người chỉ đường”, bậc trí tuệ bậc nhất trên thế gian đã nói như thế trong kinh Ganakamoggallana Sutta (Majjhima Nikāya 107). Vậy chúng ta không thể ngồi đây cầu xin ai hạnh phúc. Chúng ta phải tự đi, đi theo con đường Ngài đã chỉ, con đường mà vô số chư Phật và các bậc Thánh nhân đã đi qua. Và chắc chắn chúng ta sẽ an vui khi khởi hành, an vui trên suốt con đường, cho đến khi tự mình chiêm nghiệm chân lý cao thượng.

Trong bối cảnh Phật tử gần xa tìm cầu hạnh phúc và khát khao giáo pháp, quyển sách nhỏ này là một sự đóng góp khiêm tốn vào đại cuộc xây đắp, vun vén những niềm vui và an bình cùng tất cả. Vì là quyển sách biên soạn đầu tay, Diệu Pháp xin chân thành ghi nhận mọi ý kiến đóng góp của quý độc giả, gửi về địa chỉ: dieuphap02@gmail.com, nhằm làm cho quyển sách được hoàn hảo hơn.     

                                                               Diệu Pháp (Sudhammā)

(Bấm vào các chương màu đỏ để đọc)

Chương I: Bậc chánh đẳng chánh giác

Phẩm Tính của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác
Bốn Điều Vi Diệu
Kinh Hatthaka
Kinh anikā (Abhibhū)
Kinh Sukhumala
Năm Sự Kiện Lớn Vào Ngày Rằm Tháng Tư
Trích Lược Một Số Bài Kinh

Chương II: Bản chất phù du tạm bợ và hiểm nguy.

Kinh Aguttara Nikāya I.333-347
Lời Dạy của Araka
Bài Kinh Đầu Tiên về Hai Vị Bà La Môn  Già
Bài Kinh Thứ Hai về Hai Vị Bà La Môn Già
Bài Kinh về Những Giọt Nước Mắt
Bài Kinh về Những Giọt Máu
Bài Kinh về Mũi Tên

Chương III: Hạnh phúc thế tục và xuất gia

Bài Kinh về Người Chăn Gia Súc
Bài Giảng cho Thiện Nam Potaliya

Chương IV: Nghiệp (Kamma)

Kinh Hoàng Hậu Mallikā
Kinh Tiểu Nghiệp
Kinh Cẩu Đạo Sĩ
Đại Kinh Về Nghiệp Quả
Bài Kinh Thứ Nhất về Các Nguyên Nhân
Bài Kinh Thứ Hai về Các Nguyên Nhân
Bài Kinh Thứ Nhất về Các Kiếp Sinh Tồn
Bài Kinh Thứ Hai về Các Kiếp Sinh Tồn

Chương V: Các cảnh giới tái sinh

31 Cảnh Giới Tái Sinh
Cõi Phạm Thiên
Cõi Chư Thiên
Cõi Địa Ngục
Kinh Tứ Đại Thiên Vương

Chương VI: Bố thí và hồi hướng

Kinh về Thức Ăn
Bố Thí Đúng Thời
Người Trí Bố Thí Ra Sao
 Kinh Công Chúa Sumanā 
Phước Báu Bố Thí trong Hiện Tại
Người Cho và Người Nhận
Phân Loại Bố Thí
Ngôi Nhà Bốc Cháy
HỒI HƯỚNG PHƯỚC ĐẾN NGƯỜI ĐÃ MẤT
Trích Đoạn Kinh Cây Mía
Trích Kinh Ambasakkharapeta
Trích Kinh Tirokuṭṭa
Kinh Jānussoṇi

Chương VII: Hiểu biết đúng đắn

Sundarika Bhāradvāja
Kinh Mền Bằng Tóc
Kinh Channa
Vipallāsa – Điên Đảo
Bài Kinh về Mảnh Vải

Chương VIII: Cảm thọ, tham ái

Phong Đại Kinh
Ngôi Nhà Trọ
Kinh Vô Thường
Kinh Sivaka
Kinh Visākhā Nattā
Kinh Trước Kia
Bài Kinh Thứ Nhất về Tham Ái
Bài Kinh Thứ Hai về Tham Ái
Kinh Dục Vọng
Kinh Rāgassa Abhiññāya

Chương IX: Tứ đại, Ngũ uẩn, lục căn, 18 yếu tố và vô ngã

Kinh Rắn Độc
Kinh Chấp Thủ Upādāna
Bài Giảng Vào Đêm Rằm
Kinh Ẩn Dụ về Con Rắn
Kinh về Các Yếu Tố
Kinh Hāliddikāni
Bản Đồ Thân Tâm

Chương X: Thiền định và thiền minh sát

Sự Khác Biệt giữa Thiền Định và Minh Sát
Thiền Định (Samatha)
Tâm Từ Mettā
Thiền Minh Sát (Vipassanā)
Chánh Niệm
Thánh Nhân và Những Ô Nhiễm Đã Loại Trừ
Kinh Vijjābhāgiya
Kinh Yuganaddha Paipadā
Kinh Tinh Tấn
Kinh Thức Tỉnh
Trưởng Lão Sirimanda Thera 

Phần cuối: Những danh từ Phật Pháp

Nguyện các phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây sẽ là những duyên lành, giúp loại trừ mọi ô nhiễm, ngủ ngầm nơi tâm trong ngày vị lai.

Nguyện đem công đức này hồi hướng về tất cả, Phật tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

Sādhu, Sādhu, Sādhu!!!

Phần cuối: Những Danh Từ Phật Pháp

 Sách: Những Lời Dạy Của Đức Phật.

Biên soạn: Diệu Pháp Sudhamma

NHỮNG DANH TỪ PHẬT PHÁP

  • Dục lạc, dục lạc ngũ trần, ngũ trần: hạnh phúc trần gian gồm cảnh đẹp, âm thanh hay, mùi thơm, vị ngon và sự xúc chạm đem đến cảm giác thích thú mà chúng sinh ước ao, tìm kiếm, theo đuổi.
  • Chướng ngại (sayojana): theo Vi Diệu Pháp, có mười chướng ngại (trói buộc) gồm tham muốn dục lạc, tham muốn tái sinh, sân hận, ngã mạn, tà kiến, chấp thủ những lễ nghi và nghi thức sai lầm, hoài nghi, ganh tị, keo kiệt và vô minh.
  • Ô nhiễm (kilesa): gồm tham ái, sân hận, si mê, ngã mạn, tà kiến, hoài nghi, hôn trầm, phóng dật, không hổ thẹn (tội lỗi) và không ghê sợ (hậu quả của tội lỗi).
  • Ô nhiễm ngủ ngầm (anusaya): gồm tham muốn dục lạc, tham muốn tái sinh, sân hận, ngã mạn, tà kiến, hoài nghi và vô minh.
  • Nội căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý
  • Ngoại cảnh (đối tượng tiếp xúc với các nội căn): cảnh thấy, âm thanh, mùi, vị nếm, sự xúc chạm qua thân và các đối tượng của ý căn
  • Chấp thủ (thủ): là tham ái ở mức độ cao. Chấp thủ là bám chặt, níu chặt vào cái gì. Khi đã bám chặt vào cái gì (quan điểm, đức tin, sở thích, của cải, con người…) thì rất khó bỏ được. Trong 12 nhân duyên, Đức Phật dạy “do tham ái (ta) mà chấp thủ (upādāna) sinh khởi”.
  • Bát Chánh Đạo: con đường tu tập gồm tám yếu tố. Tu tập Minh Sát là phát triển các yếu tố này. Khi các yếu tố này lớn mạnh, chúng sẽ đưa đến giải thoát.
  • Tứ Diệu Đế: bốn sự thật (hoặc bốn chân lý) vi diệu, thâm sâu chỉ có thể hiểu được khi hành thiền Minh Sát gồm: sự thật về khổ, nguyên nhân khổ, con đường đưa đến sự chấm dứt khổ và sự chấm dứt khổ
  • Giới cấm thủ: cúng tế, lễ lạy (hay làm bất cứ cái gì ngoại trừ thực hành Bát Chánh Đạo) vì tin rằng làm như thế sẽ được che chở, bình yên, thậm chí được giải thoát
  • Thọ hỷ (hay thọ lạc): cảm giác thoải mái, vui vẻ (khi ngủ ngon, ăn no đủ, có tin vui, có việc làm tốt…)
  • Tà kiến: hiểu biết sai lầm (cho rằng không có nhân quả, chết là hết, cho rằng có linh hồn và linh hồn này đi tái sinh và sống mãi…). Trong bài kinh Brahmajāla, Đức Phật giảng về 62 loại tà kiến.
  • Chánh kiến: hiểu biết đúng đắn (tin nhân quả, tin không có linh hồn…) Khi hành thiền Minh Sát, thiền sinh dần dà hiểu nhân quả, hiểu sự sinh khởi của tâm và vật chất nơi thân tâm này, hiểu bản chất vô thường, khổ, vô ngã… Những hiểu biết này chính là chánh kiến.
  • Sự thật tuyệt đối gồm: tâm vương, tâm sở, sắc pháp và Niết Bàn, là chân lý, sự thật chỉ có thể hiểu được qua thiền Minh Sát. Theo sự thật tuyệt đối, không có một chúng sinh nào hiện hữu.
  • Jetavana: Kỳ Viên Tự
  • Anāthapiṇḍika: Cấp Cô Độc
  • Sāvatthī: thành Xá Vệ
  • Rājagāha: thành Vương Xá
  • Gotama: Cồ Đàm (là họ của Đức Phật Thích Ca)

–o0o–

TÔN KÍNH HÙN PHƯỚC IN KINH

 

Đợt Một (lưu hành nội bộ)

Sư cô Tâm Huệ

Sư cô Phước Bình

Bảo Nguyễn

Kim Anh

Nguyễn Thị Cẩm Hồng

Nguyễn Thị Tuyết Nhi

Nguyễn Thị Tuyết Lan

Trần Thị Lắm

Nguyễn Thanh Quang

Nguyễn Thị Hoa

Mai Phan

Gia đình Hải Bàn

Trang Dương

 

Đợt Hai

Sư cô Diệu Hiếu

Sư cô Diệu Minh

Sư cô Huyền Dung

Kevin Phạm

Cô Bích Liên

Gia đình Trung và Hoa

Gia đình Mai Thân (Úc)

Tâm Tường (Trần Tản) và Diệu Thảo

Bác sĩ Nguyễn Thị Lan

Thịnh Nguyễn

Đỗ Bắc Ninh

Thiền sinh Phước Sơn

Kevaladhamma

Trần thị Lắm, Cẩm Hồng, Paul Koomen,

Sophie Koomen, Michael Koomen, Kyan Koomen

Nhóm thiền Vipassanā tpHCM

Hồng Mai

Kim Diệu

Đoàn Thị Thi

Trần Cẩm Tú

Hải Lý

Anh Phú

Nguyễn Ngọc Khoa

Thảo Trần

Huyền Vương

Thu Thu Ngô

Mã Mỹ Anh

Lâm Ngọc Quyên

Trang Lê

Nguyễn Thư

Upekkhāparamī

Đăng Khôi Phạm

Lưu Thị Bích Lan

Cô Lan Anh

Nguyện các phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây sẽ là những duyên lành, giúp loại trừ mọi ô nhiễm, ngủ ngầm nơi tâm trong ngày vị lai.

Nguyện đem công đức này hồi hướng về tất cả, Phật tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

Sādhu, Sādhu, Sādhu!!!

 

 

Chương X: Thiền Định Và Thiền Minh Sát

 Sách: Những Lời Dạy Của Đức Phật.

Biên soạn: Diệu Pháp Sudhamma.

  CHƯƠNG X 

 THIỀN ĐỊNH VÀ THIỀN MINH SÁT

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA                                               

THIỀN ĐỊNH và MINH SÁT

 

Thiền Định Thiền Minh Sát
–     Phát triển sự định tâm

–     Quán sát một đề mục duy nhất

–     Tạm thời loại trừ ô nhiễm trong tâm

 

–     Tái sinh vào cõi Sắc giới và Vô Sắc giới

–     Phát triển trí tuệ

–     Quán sát đề mục sinh khởi trong hiện tại

–     Làm suy yếu và rồi nhổ tận gốc ô nhiễm trong tâm (ô nhiễm vĩnh viễn không phát sinh nữa)

–     Dẫn đến chấm dứt tái sinh, thoát khổ, kinh nghiệm Niết Bàn

THIỀN ĐỊNH (SAMATHA)

Thiền định còn được gọi là thiền chỉ hay thiền vắng lặng, có chức năng phát triển sự định tâm, chứng đắc các tầng thiền. Người hành thiền định chú tâm quan sát một đề mục duy nhất để phát triển định tâm. Thiền định tạm thời ngăn chặn những ô nhiễm trong tâm không cho chúng sinh khởi, nhưng không rốt ráo (có sự định tâm ô nhiễm không phát sinh, khi không định tâm ô nhiễm trở lại, ví như đá đè cỏ). Người hành thiền định có cơ hội phát triển được thần thông.

40 Đề Mục Thiền và Các Tầng Thiền Tương Ứng (Jhāna):

Kammatthāna                              (đề mục thiền) Tổng cộng Jhāna                                        (tầng thiền tương ứng)
10 Kasina, Ānāpanassati 11 5 tầng thiền Sắc Giới
10 Asubha, Kāyagatāsati 11 Nhất thiền Sắc Giới
Mettā, Karunā, Muditā 3 Nhất, Nhị, Tam, Tứ thiền Sắc Giới
Upekkhā 1 Ngũ thiền Sắc Giới
Arūpa 4 4 tầng thiền Vô Sắc Giới
Đề mục còn lại: 8 loại Anussati, Āhāre aikūlasaññā, Catudhātuvavatthāna  

10

Cận định (Upacārasamādhi)

GIẢI THÍCH:

í  10 loại Kasina: Đất, nước, lửa, gió, màu nâu, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, ánh sáng, không gian

í  Ānāpanassati: quán hơi thở

í  10 loại Asubha (xác chết): tử thi sình rã, tử thi màu xám đen, tử thi da sưng lên nứt nẻ, tử thi bị đứt làm hai, ba mảnh, tử thi bị chó gặm hay kên kên mổ, tử thi bị cắn xé rơi vãi, tử thi bị chặt, cưa, cắt ra nhiều mảnh quăng đó đây, tử thi máu me, tử thi bị dòi ăn, bộ xương khô.

í  Kāyagatāsati: quán 32 phần dơ bẩn, ô trược của thân

í Mettā: rải tâm từ (thương mọi người như thương chính mình)

í Karunā: tâm bi mẫn (thương người khốn khổ, kém may mắn, bất hạnh)

í  Muditā: hoan hỉ, vui mừng với thành tựu của người

í Upekkhā: tâm xả, quân bình trước tám pháp thế gian (được, thua, danh thơm, tiếng xấu, đau khổ, hạnh phúc, được khen ngợi, bị chỉ trích)

í 9 loại Anussati (phép quán tưởng): Buddhānussati (quán tưởng ân đức Phật), Dhammānussati (quán tưởng ân đức Pháp), Saghānussati (quán tưởng ân đức Tăng), Sīlānussati (quán tưởng giới hạnh trong sạch của mình), Cāgānussati (quán tưởng về những bố thí, cúng dường mình đã làm), Devatānussati (quán tưởng giới hạnh trong sạch của mình, mời chư thiên làm chứng), Upasamānussati (quán tưởng những phẩm tính của Niết Bàn), Maraānussati (quán tưởng về cái chết)

í Āhārepaikūlasaññā: quán sự ô trược của vật thực (thức ăn trở thành chất sệt nơi miệng trộn lẫn nước miếng, đờm… nằm trong bao tử chờ tiêu hóa, thành phân hôi hám ra ngoài…)

í Catudhātuvavatthāna:  quán tứ đại: đất, nước, lửa, gió

  

TÂM TỪ METTĀ

Trong Itivuttaka, Sutta 27, Đức Phật nói:

“Này các tỳ khưu, trong tất cả các phước báu thế gian, chẳng có phước báu nào sánh bằng một phần mười sáu phước báu ban rải, mở rộng lòng từ đến với chúng sinh… Ví như ánh sáng của những ngôi sao không thể sánh bằng một phần mười sáu ánh sáng của một vầng trăng… Ví như trong tiết trời thu vào tháng cuối của mùa mưa, khi bầu trời quang đãng, mặt trời trên cao xua tan mọi bóng  tối với những tia nắng rực rỡ lóng lánh và rạng ngời. Ví như khi trời đêm chuyển sáng, sao mai chiếu lóng lánh và rạng ngời. Cũng vậy, trong tất cả các phước báu thế gian, chẳng có phước báu nào sánh bằng một phần mười sáu phước báu mở rộng lòng từ đến với chúng sinh”.

 

Trong Aguttara Nikāya 11.16, Đức Phật nói:

“Này các tỳ khưu, khi lòng từ được ban rải, mở rộng, được thực hành thường xuyên, được dùng như phương tiện, như nền tảng, khi  lòng từ được thiết lập, phát triển và trở nên thuần thục, 11 điều tốt lành sẽ đến với người đó. 11 điều tốt lành đó là gì?

Người ấy: ngủ an lành (1), thức dậy an lành (2),  chẳng gặp ác mộng (3), được loài người yêu quý (4), được những chúng sinh khác yêu quý (5), được chư thiên bảo vệ (6), không bị lửa, chất độc và vũ khí làm hại (7), dễ dàng phát triển sự định tâm (8), có khuôn mặt dịu dàng, điềm tĩnh (9), chết trong thanh thản (10) và cho dù không thể phát triển sự định tâm cao hơn, người này sẽ tái sinh vào cõi Phạm Thiên khi mất (11)”.

 

Thiền Định và Những Cảnh Giới
4 cõi Vô Sắc Giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên

Vô Sở Hữu Xứ Thiên

Thức Vô Biên Xứ Thiên

Không Vô Biên Xứ Thiên

16 Cõi Sắc Giới Cảnh Tứ thiền Phước Sanh Thiên Sắc Cứu Cánh Thiên

Thiện Kiến Thiên

Thiện Hiện Thiên

Vô Nhiệt Thiên

Vô Phiền Thiên

Vô Tưởng Thiên

Quảng Quả Thiên

Cảnh Tam thiền Biến Tịnh Thiên

Vô Lượng Tịnh Thiên

Thiền Tịnh Thiên

Cảnh Nhị thiền Quang Âm Thiên

Vô Lượng Quang Thiên

Thiều Quang Thiên

Cảnh Nhất thiền Đại Phạm Thiên

Phạm Thụ Thiên

Phạm Chúng Thiên

 

Thần thông có được do phát triển thiền định[1]:

–  Thần túc thông: Đi trên mặt nước, lặn dưới đất (độn thổ), bay trên không, hô biến và tàng hình…

–  Thiên nhãn thông: Thấy được những thứ mà mắt thường không thể thấy

–  Thiên nhĩ thông: Nghe được âm thanh dù rất xa, nghe tiếng nói của các loài khác

–  Tha tâm thông: Biết được tâm của người khác đang nghĩ gì

–  Túc mạng thông: Biết được tiền kiếp của mình và người khác

Đức Phật không cho phép Đệ tử của mình khai triển thần thông, ngoại trừ vài trường hợp thật cần thiết.

 

THIỀN MINH SÁT (VIPASSANĀ)

Thiền Minh Sát còn được gọi là thiền quán, có chức năng phát triển trí tuệ giác ngộ (tuệ giác).

Thiền Minh Sát = thực hành chánh niệm = phát triển Bát Chánh Đạo = phát triển Thất Giác Chi

Lợi ích:

“Này các tỳ khưu, đây là con đường độc nhất để thanh lọc tâm chúng sanh (1), vượt khỏi buồn phiền (2), vượt khỏi than khóc (3), chấm dứt khổ thân (4), chấm dứt khổ tâm (5), thành tựu chánh trí (6) và chứng ngộ Niết Bàn (7).  Đó là bốn nền tảng của chánh niệm (Tứ Niệm Xứ)”. (Mahāsatipaṭṭhānasutta)

Tiến Trình:

Sabbe sakhārā aniccā ti

yadā paññāya passati

atha nibbindati dukkhe

esa maggo visuddhiyā.

 

 

Sabbe sakhārā dukkhā ti

yadā paññāya passati

atha nibbindati dukkhe                                                                  

esa maggo visuddhiyā.

 

 

Sabbe dhammā anattā ti

yadā paññāya passati

atha nibbindati dukkhe

esa maggo visuddhiyā.

 

Các pháp nào phát sinh do điều kiện,

các pháp ấy có bản tính thay đổi, vô thường,

với trí tuệ người thấy rõ như thế,

thấy rõ như thế, người nhàm chán đau khổ,

đây chính là con đường thanh lọc tâm.

 

Các pháp nào phát sinh do điều kiện,

các pháp ấy có bản tính đau khổ, muộn phiền,

với trí tuệ người thấy rõ như thế,

thấy rõ như thế, người nhàm chán đau khổ,

đây chính là con đường thanh lọc tâm.

 

Tất cả các pháp có bản tính vô ngã,

các pháp ấy chẳng phải là “ta” hay “của ta”,

với trí tuệ người thấy rõ như thế,

thấy rõ như thế, người nhàm chán đau khổ,

đây chính là con đường thanh lọc tâm.

 

(Kinh Pháp Cú 277-279)

 

Hiểu Sai (Tà Kiến)

 

Hiểu Đúng (Chánh Kiến)

 

Cuộc sống này:                      – ổn định, dài lâu                               – vui, hạnh phúc                            – mình làm chủ, điều khiển được

 

Ngũ uẩn này:                                      – thay đổi, vô thường                                – khổ, bất toại nguyện                              – vô ngã, không làm chủ,

điều khiển được

 

Thiền Minh Sát giúp ta hiểu được ba đặc tính vô thường, khổ và vô ngã nơi thân và tâm này. Ai hiểu được ba đặc tính này, người ấy loại bỏ được tà kiến sai lầm cho rằng thân tâm tồn tại dài lâu, đem đến hạnh phúc và có linh hồn, bản ngã (mình làm chủ, điều khiển được).

Chúng sinh đau khổ vì sinh, già, bệnh, chết và vì ô nhiễm trong tâm (bao gồm vô minh hiểu sai) hành hạ. Trong quá trình hành thiền, trí tuệ Minh Sát lần lượt phát sinh làm cho ô nhiễm, trong tâm bị suy yếu. Khi ô nhiễm trong tâm (là nguyên nhân làm phát sinh đau khổ) bị suy yếu thì đau khổ, phiền muộn suy giảm và hạnh phúc tăng lên. Khi ô nhiễm nào trong tâm bị loại trừ bởi tuệ Minh Sát, nó không thể phát sinh trở lại để hành hạ tâm này nữa. Khi mọi ô nhiễm bị loại trừ, đau khổ và tái sinh sẽ chấm dứt, người này (bậc A La Hán) kinh nghiệm loại hạnh phúc cao thượng không thể nghĩ bàn.

Cách Thức: Thực hành chánh niệm, phát triển Bát Chánh Đạo

 

CHÁNH NIỆM

(Bài giảng của ngài Paṇḍita)

 

  • ĐẶC TÍNH: Kệ ngôn “apilāpana lakkhaā” có nghĩa “chánh niệm có đặc tính không hời hợt, nổi trôi trên bề mặt”. Khi ta ném cái phao hay nút bần xuống nước, nó sẽ nổi trên mặt nước. Nhưng khi ta ném viên sỏi xuống nước, viên sỏi sẽ chìm vào trong nước. Nếu là chánh niệm thì nó phải bám chặt và chìm sâu vào đề mục giống như viên sỏi chìm vào trong nước.  Đây là đặc tính của chánh niệm.

Để tâm ghi nhận được đề mục và chìm sâu vào đề mục, thiền sinh phải hướng tâm đến đề mục và tinh tấn ghi nhận đề mục.  Thiền sinh có thể tự hay biết chánh niệm đang chìm sâu vào đề mục hay trôi nổi, hời hợt trên đề mục.

  • CHỨC NĂNG: Chánh niệm có chức năng không quên, không để vuột mất đề mục. Vì đề mục sinh khởi liên tục, chánh niệm phải liên tục bám theo đề mục đang sinh khởi trong từng sát na. Đề mục phải luôn được giữ trong tầm quan sát của chánh niệm.

 

  • BIỂU HIỆN: Biểu hiện của chánh niệm là mặt đối mặt với đề mục (visayābhimukhābhāva paccupatthānā). Ví như muốn nhìn rõ tượng Phật ta phải trực diện và nhìn thẳng vào tượng Phật, để ghi nhận đề mục, tâm ghi nhận phải mặt đối mặt với đề mục.  Do đó, thiền sinh đừng ghi nhận đề mục một cách hời hợt, lấy lệ.  Khi đề mục vừa sinh khởi, thiền sinh phải lập tức ghi nhận ngay sao cho chánh niệm có thể sinh khởi đồng thời với đề mục, mặt đối mặt với đề mục, bao phủ trọn vẹn và xuyên thấu đề mục.

Một biểu hiện khác của chánh niệm là bảo vệ tâm (ārakkha paccupatthānā), bởi lẽ khi chánh niệm có mặt, tâm không bị phiền não xâm nhập.

 

  • .NGUYÊN NHÂN làm phát sinh chánh niệm là sự ghi nhận đối tượng một cách tức thời và chính xác (thirasaññāpadatthāna). Như máy ghi âm lưu lại mọi âm thanh một cách trung thực (có sao ghi vậy), thiền sinh cần nhanh chóng ghi nhận đề mục sinh khởi mà không suy nghĩ, phân tích. Thiền sinh phải biết mình đang ghi nhận đề mục hời hợt hay nghiêm túc.

Nhờ ghi nhận liên tục vào những gì đang sinh khởi (khi nghe, thấy, ngửi, nếm, sờ chạm, khi thấy phồng, thấy xẹp, khi nhắm mắt, mở mắt…), chánh niệm lớn mạnh và có khả năng bảo vệ tâm. Thiền sinh dùng chánh niệm ngăn chận ô nhiễm. Đối với ô nhiễm đã sinh khởi, thiền sinh dùng chánh niệm để loại trừ (bằng cách hay biết và ghi nhận kịp thời). Đón nhận hay xua đuổi ô nhiễm đều không phải là phương thức thực hành Tứ Niệm Xứ.

Khi chánh niệm có mặt, tâm được bảo vệ và ngăn chận khỏi phiền não, tâm được an toàn (gutti), giải thoát (mutti).

Một cái chai trống không luôn chứa đầy không khí. Để đẩy không khí ra khỏi chai, ta có thể nhỏ nước vào chai: cứ mỗi giọt nước nhỏ vào chai thì một chút không khí bị đẩy ra ngoài. khi nước trong chai càng tăng thì không khí bị đẩy ra khỏi chai càng nhiều. Không khí chiếm trong chai ví như ô nhiễm chứa trong tâm lúc nhiều, lúc ít. Ta cũng có thể đẩy không khí ra ngoài bằng cách làm nóng cái chai.

Tương tự như thế, ta có thể dùng lửa tinh tấn (ātāpa vīriya) để đốt cháy, đẩy lùi ô nhiễm, phiền não.  Một khi bị lửa tinh tấn liên tục thiêu cháy, ô nhiễm sẽ dần dần khô cạn. Khi ta liên tục ghi nhận các đề mục đang sinh khởi bằng tinh tấn dũng mãnh, chánh niệm có khả năng ngăn cản ô nhiễm, ví như không khí bị đẩy ra khỏi chai. Một khi chánh niệm suy giảm, ô nhiễm, lập tức chen vào tâm ví như không khí lọt vào chai. Do vậy, thiền sinh cần giữ chánh niệm liên tục để ô nhiễm không thể sinh khởi. Đối với ô nhiễm, phiền não đã sinh khởi, thiền sinh phải lập tức dùng chánh niệm hút nó ra khỏi tâm giống như ta dùng nước đẩy không khí ra khỏi chai vậy.

 

THÁNH NHÂN VÀ NHỮNG Ô NHIỄM ĐÃ LOẠI TRỪ

Chỉ khi hành thiền Minh Sát, ta mới loại trừ được ô nhiễm trong tâm, trở thành Thánh nhân, kinh nghiệm Niết Bàn và đạt đến giải thoát. Do vậy, hành thiền Minh Sát là thiện nghiệp lớn lao, cao thượng nhất trong đời.

10 Samyojana

(Ô nhiễm)

7 Anusaya

(Ô nhiễm ngủ ngầm)

A La Hán A Na Hàm Tư Đà Hàm Tu Đà Hườn
Avijjā

Vô minh,        si mê

Avijjā

Vô minh,                  si mê

Loại trừ      
Uddhacca

Tâm vọng động,  phóng dật

  Loại trừ      
Māna

Ngã mạn,           kiêu ngạo

Māna

Ngã mạn, kiêu ngạo

Loại trừ      
Arūpa rāga

Dính mắc vào cõi Vô Sắc giới

  Loại trừ      
Rūpa rāga

Dính mắc vào cõi Sắc giới

Bhāva raga

Tham muốn tái sinh

Loại trừ      
Paṭigha

Ác ý,               sân hận

Paṭigha

Ác ý,           sân hận

Loại trừ Loại trừ Làm suy yếu  
Kāmarāga

Tham ái, thích thú 5 trần

Kāmarāga

Tham ái

Loại trừ Loại trừ Làm suy yếu  
Sīlabbata Parāmāsa

Nghi lễ,            thờ cúng

  Loại trừ Loại trừ Loại trừ Loại trừ
Vicikicchā

Hoài nghi Tam Bảo …

Vicikicchā

Hoài nghi Tam Bảo

Loại trừ Loại trừ Loại trừ Loại trừ
 Sakkāya Diṭṭhi

Thân kiến

Sakkāya Diṭṭhi

Thân kiến

Loại trừ Loại trừ Loại trừ Loại trừ

 

GIẢI THÍCH:

Có bảy ô  nhiễm ngủ ngầm (anusaya):

  1. Diṭṭhi: Tà kiến tin có linh hồn, bản ngã (tôi, ta)
  2. Vicikicchā: Hoài nghi về Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), hoài nghi luật nhân quả, Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, 12 nhân duyên…
  3. Kāma rāga: Tham ái dục trần (thích thú cảnh sắc, âm thanh, mùi, vị nếm, sự xúc chạm đem đến cảm giác hài lòng qua thân)
  4. Bhava rāga: Tham sống, muốn tái sinh
  5. Paṭigha: Sân hận, bực, buồn, giận, lo lắng
  6. 6. Māna: Ngã mạn
  7. 7. Avijjā: Vô minh không biết Tứ Diệu Đế…

 

KINH VIJJĀBHĀGIYA

(Aguttara Nikāya II.32)

Này các tỳ khưu, có hai điều làm phát sinh trí tuệ. Hai điều ấy là gì? Thiền Định (samatha) và thiền Minh Sát (vipassanā).

Hành thiền Định được lợi lạc gì? Tâm trở nên trong sạch (citta bhāvīyati). Tâm trở nên trong sạch có được lợi lạc gì?  Khi tâm trong sạch, tâm thoát khỏi tham ái.

Hành thiền Minh Sát được lợi lạc gì? Trí tuệ phát sinh (paññā bhāvīyati). Trí tuệ phát sinh có được lợi lạc gì? Khi trí tuệ phát sinh, vô minh bị loại trừ.

Vì tham ái làm tâm ô nhiễm, nên tâm này không trong sạch. Vì vô minh làm tâm ô nhiễm, trí tuệ không phát sinh. Khi tham ái không còn, tâm này được giải thoát (rāgavirāgācetovimutti). Khi vô minh không còn, trí tuệ giải thoát phát sinh (avijjāvirāgāpaññāvimuttī).

GIẢI THÍCH:

Khi có sự định tâm, những ô nhiễm như tham ái, sân hận… không sinh khởi nên tâm được trong sạch. Cho nên nói: khi tâm trong sạch, tâm (tạm thời) thoát khỏi tham ái.                                                 Hành thiền Minh Sát làm suy yếu ô nhiễm và rồi nhổ tận gốc rễ ô nhiễm. Khi ô nhiễm như tham ái, sân hận, si mê bị nhổ gốc, nó sẽ không bao giờ mọc lên được nữa. Cho nên nói: tâm được giải thoát, vô minh không còn và trí tuệ giải thoát phát sinh.

 

KINH YUGANADDHA PAIPADĀ

(Aguttara Nikāya IV. Paipadāvagga.170)

 

Một thuở nọ, Đại đức Ānanda sống ở Kosambī, tại tăng viện của Ghosita. Đại đức Ānanda nói với chư tăng:

Này các tỳ khưu, khi một tỳ khưu hay tỳ khưu ni tuyên bố trước mặt sư rằng người ấy đã đạt quả vị A La Hán, người này chứng đắc như thế qua một trong bốn cách. Đó là bốn cách nào?

Này các tỳ khưu, vị ấy phát triển thiền Định trước và hành thiền Minh Sát sau (samatha pubb’agama vipassanā). Khi tu tập như thế, magga sinh khởi trong tâm.[2] Sau đó, vị ấy tiếp tục tu tập, vun bồi [3] phát triển[4] và làm vững mạnh[5] Thánh đạo. Trong khi tu tập, phát triển Thánh đạo, những ô nhiễm và ô nhiễm ngủ ngầm trong tâm bị loại trừ, diệt tận.

Hoặc này các tỳ khưu, vị ấy phát triển thiền Minh Sát trước và hành thiền Định sau (vipassanā pubb’agama samatha). Khi tu tập như thế, Thánh đạo sinh khởi trong tâm. Sau đó, vị ấy tiếp tục tu tập, phát triển Thánh đạo. Và trong khi tu tập, phát triển Thánh đạo, những ô nhiễm và ô nhiễm ngủ ngầm trong tâm bị loại trừ, diệt tận.

Hoặc này các tỳ khưu, vị ấy phát triển thiền Minh Sát và thiền Định song đôi (samatha vipassanā yuganaddha). Khi tu tập như thế, Thánh đạo sinh khởi trong tâm. Sau đó, vị ấy tiếp tục tu tập, phát triển Thánh đạo. Và trong khi tu tập, phát triển Thánh đạo, những ô nhiễm và ô nhiễm ngủ ngầm trong tâm bị loại trừ, diệt tận.

Người này phát triển thiền Định, chứng đắc Nhất thiền. Ra khỏi Nhất thiền, người này quan sát các chi thiền sinh diệt. Sau đó, người này phát triển thiền định, chứng đắc Nhị thiền. Ra khỏi Nhị thiền, người này quan sát các chi thiền sinh diệt. Bằng cách này, người này tuần tự chứng tất cả các tầng thiền Định và tuần tự quan sát sự sinh diệt của các chi thiền này.

Hoặc này các tỳ khưu, có khi vị ấy gặp phải chướng ngại trong tâm trong quá trình thiền Minh Sát (dhamm’uddhacca viggahita mānasa). Nhưng rồi sẽ đến lúc tâm vị ấy trở nên thanh tịnh, vững mạnh, trụ tâm trên đề mục thiền Minh Sát và Thánh đạo sinh khởi trong tâm. Sau đó, vị ấy tiếp tục tu tập, phát triển Thánh đạo. Và trong khi tu tập, phát triển Thánh đạo, những ô nhiễm và ô nhiễm ngủ ngầm trong tâm bị suy yếu, loại trừ và diệt tận.

Này các tỳ khưu, khi một tỳ khưu hay tỳ khưu ni tuyên bố trước mặt tôi rằng người ấy đã đạt quả vị A La Hán, người này chứng đắc như thế qua một trong bốn cách trên.

GIẢI THÍCH:

Mười chướng ngại trong thiền Minh Sát phát sinh ở tuệ Sinh-Diệt gồm: ánh sáng, năm loại hỉ (pīti), lạc (sukha), định (passadhi), đức tin (saddhā), tinh tấn quá mức (paggaha), định tâm quá mạnh đưa đến suy tưởng về quá khứ hay tương lai (upatthana) nên tâm không ở trong hiện tại quan sát những gì đang xảy ra. Trí tuệ nhập nhằng liên quan đến pháp học (jinta ñāa) làm thiền sinh không quan sát được những gì xảy ra trong hiện tại, thờ ơ với mọi việc đang xảy ra trong hiện tại (upekkhā) nên không phát triển chánh niệm đầy đủ, mà chỉ thỏa thích với nhiều đề mục như ánh sáng, hỉ, lạc, đức tin, tinh tấn, trí tuệ và chánh niệm mình có (nikanti).

Khi kinh nghiệm những điều này, thiền sinh cần quan sát chúng thật kỹ càng. Ánh sáng, hỉ, lạc… không phải là mục tiêu của thiền Minh Sát. Tham thích, thỏa mãn với những kinh nghiệm này, việc tu tập của thiền sinh sẽ bế tắc, không thể tiến xa hơn.

 

KINH TINH TẤN

(Padhāna Sutta, Khuddaka Nikāya, Sutta Nipāta 3.2)

Khi ta đang hành thiền cạnh bờ sông Nerañjara với quyết tâm đạt đến quả vị giải thoát, Ma Vương Namuci[6] đến và nói rằng:

  • Hỡi đạo sĩ, thân hình ngươi giờ tiều tụy, gầy còm. Ngươi đang cận kề cái chết. Một ngàn phần (trong thân hình người) đã chết, chỉ còn lại một phần còn có sự sống. Hãy sống, hỡi đạo sĩ! Sống vẫn hơn. Có sống mới tạo được phước báu.

 

Hãy sống độc thân và hằng cúng tế thần lửa, người sẽ tạo được nhiều phước báu. Ép mình sống đời khổ hạnh như thế để làm gì? Con đường kiên trì nỗ lực (để đạt đến giải thoát) quả thật kham khổ, khó khăn và không dễ thành tựu.

Ma vương đứng trước mặt ta nói những lời như vậy. Và ta trả lời:

  • Này Ma vương, thân quyến của tội lỗi xấu xa và lười biếng! Ngươi đến đây vì lợi ích gì? Với những người mưu cầu phước báu, lời lẽ của ngươi có vẻ như rất thuyết phục. (Nhưng phước báu nào có giá trị gì?)

Với niềm tin vững chắc (saddhā), tự kiểm soát tâm chặt chẽ (tapo), tinh tấn (viriya) và trí tuệ (paññā), ta nỗ lực (đạt đến giải thoát) như vậy, sao ngươi còn cật vấn ta về đời sống? Gió thổi mãi, một ngày kia cũng có thể làm khô cạn nước sông, thì máu huyết của người tu ép xác khổ hạnh (nhịn ăn, nhịn uống) làm gì khỏi bị cạn kiệt? Máu cạn thì mật khô, thịt cũng hao mòn. Thịt càng hao mòn thì tâm càng thanh tịnh. Tâm càng an tịnh, chánh niệm, trí tuệ và tâm định càng trở nên vững chắc. Khi chịu đựng những cơn đau đớn cùng cực như thế, tâm ta chẳng hề nghĩ tưởng đến hạnh phúc ngũ dục. Vào lúc ấy, ta bỗng hiểu rõ thế nào là trạng thái trong sạch của một chúng sinh!

Kāma, tham dục là đạo binh số một của ngươi. Đạo binh thứ nhì là arati, bất mãn (với đời sống Thánh thiện). Ba là khuppipāsā, đói và khát. Bốn là ta, ái dục. Năm là thina middha, uể oải buồn ngủ. Sáu là bhīru, sợ hãi. Bảy là vicikicchā, hoài nghi. Tám là makkha thambha, chê bai và bướng bỉnh. Chín là lābha, lợi lộc, siloka, khen tặng, Sakkara, vinh dự và micchāladdha, sở hữu bất chánh. Và đạo binh số mười là yasa, tiếng tăm.

Namuci, đây là đội quân của ngươi, những binh lực của kẻ xấu xa, quỷ quái[7]. Người hèn nhát, ươn yếu thì không thắng nổi, nhưng người chế ngự được những đạo binh ấy sẽ tìm gặp loại hạnh phúc tuyệt vời.

Ta cột lên chùm cỏ muñja.[8] Thà ta chết trên chiến trường còn hơn sống mà thất bại! Một số đạo sĩ và bà la môn đã không nỗ lực kiên trì (đạt đến giải thoát) mà chìm đắm (trong đời thế tục). Họ không hay biết con đường mà các bậc Thánh thiện, đức độ đang tiến bước.

Ta thấy Ma vương đã lên lưng voi và quân đội vây quanh đã sẵn sàng. Ta sẽ lâm trận để Ma vương không thể dịch chuyển ta khỏi chỗ ngồi này. Như viên đá làm bể cái bình đất chưa nung, ta sẽ dùng trí tuệ tiêu diệt đội quân hùng hậu của ngươi, đội quân mà cả thế giới và chư thiên không thể nào địch nổi. Và với cái tâm thuần thục và luôn được trang bị bằng chánh niệm, Ta sẽ đi từ nơi này đến nơi khác dạy dỗ đệ tử. Tinh tấn và bền bỉ hành theo giáo huấn của ta, giáo huấn của một người không còn tham ái, họ sẽ đến được nơi không còn đau khổ nữa.

Ma vương thốt lên:

  • Suốt bảy năm ròng bám sát người luôn sống trong chánh niệm, nhưng ta chẳng tìm thấy một cơ hội chiến thắng. Như con quạ lầm tưởng hòn đá là một chút mỡ để ăn nhưng chẳng tìm thấy cái gì có thể ăn được nên bỏ đi, chúng ta rời khỏi Gotama, người làm chúng ta thất vọng (vì không bao giờ có thể đánh thắng Ngài được).

Cây kèn rơi khỏi tay Ma vương đang buồn khổ và đội hung binh của nó buồn bã bỏ đi.

Với những lời cương quyết ấy, ta chiến thắng Ma vương và quyết tâm thành đạt mục tiêu kinh nghiệm đạo quả Phật.

 

KINH THỨC TỈNH

(Utthana Sutta, Sayutta Nikāya II.10)

 

Dậy! Hãy ngồi dậy! Ngủ thì được lợi lạc gì? Với những kẻ bị căn bệnh (đau khổ) hoành hành, bị mũi tên (tham ái) bắn trúng, ngủ mà làm chi?

Dậy! Hãy ngồi dậy! Hạ quyết tâm tu tập rèn luyện để có được an lạc (Niết Bàn). Đừng để tử thần vì thấy ngươi bất cẩn, buông lung mà thống trị và làm cho ngươi lạc lối.

Hãy vượt lên mọi say đắm ngũ dục, cái mà loài người và chư thiên tìm kiếm và bị trói chặt vào đó. Đừng bỏ lỡ cơ hội. Bởi lẽ khi cơ hội vuột khỏi tầm tay, ngươi sẽ đau khổ khóc than nơi địa ngục.

Lười biếng là vết nhơ và lười biếng sẽ tăng trưởng. Với lòng kiên định và trí tuệ, người sẽ rút ra được mũi tên (tham ái, say đắm trong hạnh phúc trần gian).

 

TRƯỞNG LÃO SIRIMANDA

(Theragāthā 6.13)

 

Mưa ẩm mốc món đồ đậy khuất,

mưa chẳng làm hư vật dụng để bên ngoài.

Hãy lấy ra món đồ đậy cất,

để nó chẳng bị ẩm mốc bởi mưa.[9]

Thế giới này bị cái chết tấn công,

bị già nua bóp ngạt,

bị những mũi tên tham ái cắm ngập,

và những khát vọng làm lu mờ, tối tăm.

 

Thế giới này bị cái chết tấn công,

bị già nua vây bủa.

Cứ thế, bị đánh đập triền miên,

không nơi ẩn nấp,

như kẻ cướp dưới những lằn roi.

 

 

Già, bệnh và chết tiến đến ta,

như ba đống lửa khổng lồ,

chẳng sức mạnh nào cản nổi,

chẳng tốc độ nào vượt thoát.

 

Hãy sống trọn vẹn đời mình,

dù ít hay nhiều.

vì từng đêm trôi qua,

mạng sống này ngắn lại.

 

Dù đi hay đứng,

ngồi hay nằm,

đêm cuối cùng ngày một đến gần,

ta chẳng còn đủ thời gian để lười biếng.

 

  • o0o –

 

[1] Tuy nhiên, rất ít người có thần thông dù hành thiền Định.

[2] Magga: các Chú Giải có những giải thích khác nhau. Magga có nghĩa là Thánh đạo đầu tiên, hoặc là tiến trình tu tập phát triển tuần tự các tuệ Minh Sát trước khi đạt Thánh đạo đầu tiên.

[3] Theo cách Nibbidānupassanā: phát triển tuệ Chán Nản, Sợ Hãi

[4] Theo cách Muccitukamyatā: tuệ Muốn Giải Thoát và các tuệ khác

[5] Theo cách Paisakhānupassanā: “làm vững mạnh” có nghĩa là có tuệ Quán Xét Lại hoặc là có tuệ Vượt Thoát (Vuṭṭhānagāminī vipassanā).

[6]Namuci” có nghĩa “người không chịu buông bỏ” (one who does not let go), tức là người muốn thâu tóm, thống trị tất cả chúng sinh. Ma Vương muốn chúng sinh sống trong luân hồi để nó được thống trị. Theo kinh sách, có năm loại ma vương là: 1. Trời Ma Vương (Devaputta), Khát vọng (Kilesa), 3. Hành (Abhisakhara), 4. Uẩn (Khandha) và 5. Tử Thần (Maccu).

[7]Kandha” (Sanskrit: Krishna) là một tên khác của Māra. Trong Ấn Độ giáo, Kandha là thần Ái Dục (Kamadeva) biểu tượng của tham ái. Thần Ái Dục Kandha có cây sáo (vina) mà mỗi khi thổi, người nghe sẽ rụng rời và dễ dàng bị bắt giữ. Kandha còn có các vũ khí khác như cung tên, mũi tên, dây thừng và cái móc.

[8] Ở Ấn Độ thời xưa, chùm cỏ muñja tượng trưng cho lòng cảm tử, thà chết chứ không đầu hàng.

[9] Nhân ngày lễ trai giới, trong khi giới bổn tỳ khưu Pātimokkhā đang được đọc, đến phần cuối nói về một lỗi bị phạm sẽ được nhẹ đi khi sám hối, Ngài nghĩ đến lợi ích sám hối các lỗi đã được giấu đi. Nghĩ vậy, Ngài vui mừng nói lớn: “Trong sạch thay giới luật của bậc Đạo Sư!” Rồi Ngài hành thiền Minh Sát và chứng quả A La Hán. Nhớ lại việc này, Ngài dạy các vị đồng tu như thế.